Ước mơ và duyên số, tướng mệnh đàn bà

Ngày: 2017-10-12

By member of dieutri.vn

Có duyên với nhau thì dù ngàn trùng xa cách mà vẫn gặp được. Không có duyên với nhau thì đứng trước mặt mà vẫn không thấy

Trọn vẹn tình, trọn vẹn duyên vốn là ước mơ rấ ítkhi thành sự thật của bất cứ đàn bà con gái nào.

Nhà văn Lê Quý Đôn trong bài văn sách nhan đề  Lấy chồng cho đáng tấm chồng  viết:

Em nay tuổi mới trăng tròn, tiết vừa hoa nở vâng lời sách hỏi, giải hết niềm đơn:

Em nghe rằng sen ngó đào tơ, may gặp hội hôn nhân chi phải lứa, chả chim cơm trắng vẫn mong giải cấu chi tốt đôi, chọn mặt gửi vàng dẫu ý ai cũng vậy.

Trộm nghĩ rằng rồng bay còn đợi đám mây, bắn bình tước phải đợi tay anh hùng. Lấy chúng em chi má đỏ hồng hồng, răng đen nhưng nhức chẳng những muốn cô tí dì nho chi dự, vẫn là mong chồng loan vợ phụng chi chung tình. Nếu có cú đậu cành mai, thời công trang điểm chẳng hoài lắm ru. Vậy nên sớm gửi tơ duyên, ai chẳng là ngọc đá vàng thau chi lừa lọc.

Có thơ rằng:

Gương trời chi để phàm tay vuốt

Búa nguyệt sao cho đứa tục mài.

Nhưng đến khi bước vào thực tế thì mới hiểu duyên phận khác nhau hẳn với mơ ước.

Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần

Làm thân con gái mấy lần tơ vương

Chắc về đâu trong đục trong chờ

Hoa thơm mất tuyết nương nhờ vào đâu

Số em giầu lấy khó cũng giầu

Số em nghèo chín đụỉn mười trâu cũng nghèo

Phải duyên phải kiếp thì theo

Thân em có quản khó nghèo làm chi

Tình duyên là sự kết hợp của trai gái (có những trường hợp bệnh hoạn là tình duyên đồng tình ái giữa trai với trai (homosexuel) và gái với gái (lesbienne), ngoài mặt có vẻ là do người, nhưng kinh nghiệm thực tế cả bao ngàn năm cho thấ là không hoàn toàn do người mà do duyên kiếp.

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Có duyên với nhau thì dù ngàn trùng xa cách mà vẫn gặp được. Không có duyên với nhau thì đứng trước mặt mà vẫn không thấy. Những câu Thiên tác chi hợp duyên trời se. Duyên khiên  duyên sui, Thiên lý nhân duyên duyên thiên lý...

Đã trở  thành những định luật cho sinh hoạt tình ái của xã hội  loài người.

Đời tấn, truyện  Đông sàng viên phúc  kể:

Hoàng giám sai người sang nhà Vương Đạo để xem người kén rể. Vương Đạo mời sứ giả của Hoàng Giám vào nhà. Trở về, sứ giả thưa rằng: Bên nhà họ Vương, con trai đứa nào trong cũng khôi ngô tuấn tú, thấy tôi đến đứa thì chạy ùa ra, đứa thì lẫn tránh. Duy chỉ có một thằng thản nhiên nằm soa bụng hát nghêu ngao ở bên giường phía đông.

Hoàng Giám bảo: Đó chính mới đáng mặt làm rễ ta. Bèn hỏi họ tên thì là Vương Hi Chi, liền định ngày hứa hôn. Quả nhiên về sau Vương Hi Chi là một tay cái thế văn chương bút mặc. Từ đấy chàng rễ gọi là đông sàng

Cũng đời Tấn có truyện sau:

 Linh Hổ Sách mơ thấy mình đứng trên băng tuyết nói chuyện với ai đó nằm ở dưới băng tuyết, mới đem hỏi Sách Thẩm là một người giỏi thuật sổ. Thẩm nói:  Băng thượng nhân dữ băng hạ nhân, ngữ là đương nói chuyện với âm, sẽ có chuyện mai mối đấy, ông nên se duyên cho người, khi băng tuyết tan thì nhân duyên cũng thành.

Quả nhiên mấy ngày sau, Điền Báo nhờ Linh Hổ Sách sang hỏi con gái Trương Công Vi. Linh Hổ Sách nhận lời và công việc êm đẹp. Mùa xuân có đám cưới. Do điển tích này nên người mai mối được gọi là  băng nhân.

Đời Đường, truyên Lư Sinh kể:

Từ Minh có cô con gái xinh đẹp sắp gả cho Lư Sinh nên chọn ngày lành tháng tốt cho con về nhà chồng. Đúng ngày vu quy mới gọi một  nữ vu  (cô bói đồng) tới, bà mẹỉ nói: Tiểu nữ chiều nay về nhà chồng, nó lấy cậu Lư Sinh vẫn thường lui tới đây mà bà đã biết đó, vậy bà xem Lư Sinh có  phải  là người phúc phận dầy hay mỏng ?

Nữ vu đáp: Lư Sinh là anh chàng có bộ râu đẹp đấy phải không ? Bà mẹ gật đầu

Nữ vu bảo: Người ấy không phải là con rễ của phu nhân. Con rễ phu nhân mặt trắng và không râu mới đúng

Bà mẹ kinh ngạc nói: Vậy con gái tôi chiều nay có lên kiệu hoa không?  Nữ vu đáp: Có

Bà mẹ hỏi: Đã có thì sao lại chẳng phải là cậu Lư Sinh ?

Nữ vu nói: Không hiểu, chỉ biết Lư Sinh không phải là con rễ phu nhân.

Một chập sau, nhà Lư Sinh đem lễ vật vào. Bà mẹ nổi giận đuổi nữ vu ra khỏi nhà. Nữ vu tới cửa quay lại bảo: Buổi chiều chuyện mới xảy ra, tôi đâu dám nói láo.

Đến chiều Lư Sinh ngồi xe tới, cúi đầu lễ ông bà nhạc, hai họ phân ngồi chủ khách.

Chẳng ngờ chưa được mấy phút, Lư Sinh bỗng chạy ra cửa nhẩy lên ngựa phóng như bay. Quan khách chẳng một ai hiểu duyên cớ sao đều trố mắt ngỡ ngàng.

Nhất là ông nhạc, vừa ngạc nhiên vừa giận tím mặt. Để chứng minh con gái mình không sứt mẻ gì, ông bèn gọi cô dâu ra trình diện, bỏ cả mão cưới che mặt xuống. Quả nhiên cô nàng đẹp như hoa như ngọc, ai nấy trầm trồ khen ngợi. Còn ông nhạc thì phân bua:  Nếu tôi không đưa con gái tôi ra chắc quí vị lại tưởng nó ma lem ma mút hay hình thú  Tất cả suýt sia tiếc cho Lư Sinh dại dột.

Chủ nhân nói tiếp: Tôi đã trình diện con gái tôi, bây giờ trong đây có ai hỏi thay Lư Sinh, tôi bằng lòng gả ngay chiều hôm nay.

Vừa dứt câu thì một trong những thanh niên phù rễ đứng lên thưa: Xin cưới cô dâu  Và ngay đó tiệc cưới cử hành. Chú rễ mới người họ Trịnh.

Ít lâu sau, Trịnh làm quan trong kinh, có gặp Lư Sinh hỏi lý do tại sao hôm ấy Lư Sinh chạy bán mạng như thế ? Sinh nói:  Trời ơi, con bé đó hai mắt đỏ rực lồi ra bằng hai cái chén, răng nhọn như lưỡi mác thì phải chạy chứ sao

Trịnh gọi vợ ra chào bạn và kể lại sự tình đầu đuôi, Lư Sinh thẹn đỏ mặt cáo

về.

Truyện kết cấu bằng câu: Việc kết giải đồng tâm vốn do tiền định bất khả cẩu nhi cầu.

Truyền thuyết Đính hôn điếm kể:

Vi Cố người Đỗ lăng, lúc nhỏ mồ côi, mong mỏi lấy vợ, hỏi mấy đám mà không thành.

Năm Trinh Quan thứ hai, Cố đi chơi Thanh Hà, trọ ở quán Tống Thành, gặp bạn đề nghị làm mối vợ là con quan tư mã Phan Phương cho, hẹn sáng mai tới Tây Long Hưng để bàn vấn đề hôn nhân.

Vi Cố nôn nao ngay đêm hôm ấy đã tới chùa Tây Long Hưng mà chờ. Bóng trăng đã xế nhưng vẫn còn sáng rõ. Vi Cố thấy một ông lão đang mãi mê bới tìm trong bọc vải đầy sách. Vi Cố ngó vào, nhưng đọc mãi mà không hiểu mới hỏi:

- Lão phu tìm sách gì vậy ?

Cố đi học từ tấm bé, biết về sách cũng kể là khá nhiều, cả tiếng Phạn cũng đọc được thế mà sách của lão phu đây, Cố đã cố đọc mà chẳng hiểu lấy một chữ.

Oâng lão cười bảo à, sách của lão đâu phải là sách thế gian mà cậu đọc nỗi

Vi Cố chắp tay thưa:  Vậy là sách ở đâu ?

- Sách của cõi u minh

- Người nơi u minh sao lại tới đây lúc này ? Vi Cố hỏi.

- Tại cậu đi quá sớm đấy chứ, bây giờ hãy còn là giấc của u minh. Và quan lại cõi u minh thường làm việc xem xét người sống trên thế gian. Oâng lão đáp.

- Như lão phu thì coi việc chi?

- Lão coi việc hôn nhân thiên hạ.

Vi Cố vui mừng nói: Cháu mồ côi từ nhỏ, muốn lấy vợ sớm để  mở rộng đường nối dõi, nhưng cả mười năm nay cầu xin khắp mọi chỗ mà không toại ý. Hôm nay lại có người bạn hẹn gặp ở đây để nói chuyện hôn phối với con gái quan tư mã họ Phan, chẳng hay lần này có thành công không ?

Oâng lão lắc đầu bảo: Chưa thành đâu, vợ cậu năm nay mới lên ba tuổi, làm sao lấy chồng, phải tới năm cô ta 17 tuổi mới trở nên vợ cậu được

Vi Cố thấy ông lão tay cầm cái bao, chàng hỏi: Bao đó có gì? Oâng lão nói: Toàn là những sợi dây đỏ để buộc chân những ai có duyên vợ chồng. Chính nhờ những sợi xích thằng này nên dù hai người sinh trong hai gia đình thù nghịch, dù giàu nghèo khác nhau, dù góc biển chân trời, kẻ Sở người Ngô cũng vẫn tìm đến với nhau kết nghĩa trăm năm. Cái chân của cậu đã được buộc dây đỏ rồi, cậu có đi tìm nơi khác thêm trăm lượt nữa cũng thế thôi.

- Xin lão phu cho biết vợ con hiện tại ở đâu ? Gia thế ra sao ?

- Là con gái một mụ bán rau ở cổng Bắc chợ kia.

- Cháu có thể gặp mặt được ngay chăng ?

- Được, vì mụ ta cứ ngày ngày ẵm con nhỏ ra chợ bán rau, hãy theo lão, lão chỉ cho.

Trời tờ mờ sáng, người bạn của Vi Cố không đến, còn ông lão thì đã thu xếp tay nải đựng dậy. Cố liền đi theo. Đến chợ, Cố trông thấy một mụ bán rau lem luốc, rách rưới tay ẵm đứa trẻ ba tuổi, gầy gò xấu xí. Oâng lão chỉ tay bảo: Vợ của cậu đấy.

Vi Cố giận lắm hỏi:  Cháu giết nó đi được không ?

Oâng lão nói: Người ấy số mệnh ấn lộc lớn của trời, làm sao giết nổi. Rồi ông lão biến mất.

Vi Cố về nhà mài con dao nhỏ, tìm gặp một tên giết mướn bảo: Nếu chú mày chịu vì tao giết con bé ấy, tao sẽ biếu mày vạn tiền. Tên giết mướn chịu.

Sớm hôm sau, nó thủ con dao vào tay áo, đến chợ lừa lúc người qua lại lộn xộn, rút dao đâm. Về nhà, Vi Cố hỏi nó: Trúng không ?

Nó bảo: Định đâm vào ngực mà trượt ra trúng vào đầu

Rồi thêm mấy đám nữa Vi Cố nhờ người mai mối vẫn không thành.

Bẵng đi 14 năm. Vi Cố làm việc với quan thôi sử Vương Thái. Thấy Vi Cố hay chữ có tài, đem con gái gả cho. Cô ta mười bảy tuổi dung sắc hoa lệ. Vi Cố yêu lắm. Duy chỉ có một điều lạ, Cố để ý thấy vợ luôn luôn cài bông hoa vải vào mái tóc, cánh hoa thường che kính đôi chân mày kể cả lúc nàng tắm. Cố mới gạn hỏi, vợ kể rằng: Thiếp chỉ là con nuôi quan Thứ sử, lúc ba tuổi toàn gia mắc nạn, nhờ bà vú ẳm chạy trốn, để sinh sống bà vú đi bán rau ngoài chợ. Một sớm kia có tên ăn cướp đâm trúng vào đầu thiếp, may trượt lướt qua, nhưng cũng thành sẹo. Lưu lạc thêm vài năm nữa thì ông chú tìm được mang thiếp về nuôi nhận làm con.

Cố nói: Phải bà bán rau họ Trần không?

Vợ đáp: Đúng. Sao phu quân biết ?

Cố bảo: Kẻ cướp ấy do Cố này sai phái đấy. Nói rồi kể hết đầu đuôi. Cả hai cùng lấy làm kỳ.

Do chuyện Vi Cố mà thành điển tích. Nguyệt lão hay ông tơ bà nguyệt.

Tay nguyệt lão khờ sao có một

Buộc mình vào kim ốc mà chơi.

Sách  Tiền định lục  kể:

Vũ Ân đính hôn với con gái họ Trịnh. Bạn Ân là Câu Long Sinh giỏi xem tướng bảo: Trịnh thị không có nghiệt duyên với anh đâu  Quả nhiên, hôn nhân bất thành, Trịnh thị đi lấy người khác. Còn Vũ Ân sau gá nghĩa với Vi thị.Được bốn năm tháng thì Vi thị qua đời.

Trung quốc dân gian cô sự  kể:

Cuối đời Đường, ở Tầm Dương huyện có hai anh em sinh đôi, nối liền hai thai nhi bằng một đốt sụn, nhờ vị cao tăng giải phẩu mà tách ta thành hai. Bởi vậy họ giống nhau như hai giọt nước, về tâm lý cũng như về thể chất. Nóng cả hai cùng nóng, lạnh cả hai cùng lạnh, buồn cả hai cùng buồn, vui cả hai cùng vui.

Lớn lên, cả hai cùng thông tuệ khác người. Trong trường làm văn, ý tứ cả hai không khác nhau mảy may. Một tên Hứa Chí Bình, Một tiên Hứa Chí Diễn. Nếu Hứa Chí Bình ăn trái thơm thì Hứa Chí Diễn dù ở xa cũng thấy mùi thơm ở miệng.

Năm họ hai mươi tuổi, nhân ngày hội Phật hai anh em quen được với Tư tuyết Nương. nàng cảm mến hai anh em họ Hứa lắm nên mời về nhà nàng. Cha mẹ nàng cũng rất ân cần với Chí Bình, Chí Diễn.

Chẳng mấy chốc tình yêu nảy nở giữa ba người. Vì anh em họ Hứa giống nhau nên nàng không thể hiểu mình yêu ai. May sao, có lần Hứa Chí Bình đi một mình và gặp Tư Tuyết Nương. Chàng và nàng rủ nhau ra hồ sen vui đùa. Từ lần đó trở đi, Tứ Tuyết Nương yêu Hứa Chí Bình. sau đó cuộc gặp gỡ của ba người đã có sự đổi khác. Tuyết Nương thân với Chí Bình hơn và ít mặn mà cùng Chí Diễn khiến Chí Diễn đau khổ.

Do tình yêu mà quan hệ mật thiết giữa hai anh em thay đổi hẳn. Chí Bình mãi mê tìm gặp Tuyết Nương nên mỗi ngày một xa cách Chí Diễn.

Phần Chí Diễn, mỗi khi Chí Bình đi chơi một mình với Tứ Tuyết Nương thì trong ruột chàng nóng như lửa đốt, hơi thở đứt từng quãng, hai tay nóng ran là lúc hình ảnh Chí Bình và Tứ Tuyết Nương quang vai nhau quay lộn trong óc.

Thời gian trôi mau, vụt cái đã đến ngày thành hôn Chí Bình và Tứ Tuyết Nương.

Trước niềm vui của anh, Chí Diễn cảm thấy đời sống của chàng không còn ý nghĩa gì nữa. Chàng ra bên hồ ngồi tư lự. Chí Diễn tuyệt vọng nghĩ đến cái chết.

Ba ngày sau, Chi Diễn mang theo gói thuốc độc ngồi hồi lâu bên hồ nước rồi nuốt gọn gói thuốc đó. Nhìn xuống chàng thấy Chí Bình trong hình ảnh của ảo giác cũng đau đớn như mình, Chí Diễn mới tỉnh ngộ vì làm như vậy là giết luôn cả người anh mình. Nhưng hối hận thì đã muộn.

Cả hai anh em cùng chết một ngày. Đau đớn nhất là Tứ Tuyết Nương, nàng vật vã than khóc rồi cũng tự sát chết theo.

Truyện nhà Phật kế:

 Một vị cao tăng đang ngồi tụng kinh, bỗng có gã đàn ông hốt hoảng chạy vào chùa đến trước mặt ngài quỳ xuống van xin cứu mạng. Ngài liền giấu hắn dưới gầm bàn thờ.

Lát nữa có gã khác tay cầm con dao, mặt mũi giận dữ chạy tới, hỏi ngài tên kia trốn đầu và trần tình đầu đuôi rằng hắn phải giết cái người quyến dụ vợ hắn.

Ngài ôn tồn bảo:

- Được, nếu con đã nhất quyết thì ta sẽ chỉ chỗ cho nhưng trước khi làm điều này hãy suy nghĩ đi. Ngoài sân có chậu nước mưa, con ra đấy rữa mặt để dìm cơn nóng giận thì mới sáng suốt mà hành động cho khỏi thất thố.

Hắn nghe lời, ra sân vã nước lên mặt, nước mát lạnh làm hắn tỉnh táo.

Bỗng hắn cúi nhìn vào chậu thì cảm thấy mình như bị mê đi, đang ở giữa biển khơi đánh cá gặp cái xác người đàn bà đang trôi, liền cho bơi thuyền tới định mang xác người ấy lên. Nhưng nghĩ sao hắn lại thôi và lấy sào đẩy xác ra xa.

Thì đàng xa kia, một chiếc thuyền khác, trông đúng là bạn hắn, gã mà hắn vừa định đuổi giết, quẳng lưới vớt xác lên thuyền đưa vào bờ cúng vái làm ma chay chôn cất tươm tất. Khi tẩm liệm, gã nhìn thấy mặt người đàn bà xấu số kia chẳng ai xa lạ, chính là vợ hắn. Bàng hoàng hắn thét lên, thì ra hắn vừa qua một giấc mơ.

Ngơ ngác chưa kịp nói sao thì vị cao tăng đã ân cần bảo:

- Đấy con xem, con với người đàn bà đó duyên số chỉ ngắn ngủi ngần ấy thôi. Hết hạn bà ta phải trả nốt cái kiếp trước cho người đã mai táng mình. Thi ân thì ít mà con đòi hỏi nhiều thì e không phải lẽ.

Nghe xong, hắn vất con dao xuống đất xin qui Phật.

Qua những câu chuyện kể trên đây, rõ ràng tình phải theo duyên.

Duyên có là một điều huyền bí không ? Và chỉ có nguyệt lão hay tiên tăng mới biết được.

Tướng mệnh học không trả lời thật xác câu hỏi này nhưng căn cứ vào phương pháp quỹ tập kinh nghiệm tướng mệnh học có thể khẳng định rằng: Tình duyên thế nào, oan khiên hay hạnh phúc hiện lên hình hài con người ta như vậy. Tuy tướng mệnh học không biết được ỳ-nghĩa chi tiết như nguyệt hạ lão nhân hay vị cao tăng thần thánh nọ, tuy nhiên, cũng khả dĩ đoán định kết quả hảo hoại của tình duyên ra sao. Tướng mệnh học chẳng khác chi nhà thảo mộc học quan sát tướng cây: cây vỏ vàng thì rễ hư, gốc thối hoặ sâu tàn phá. Tuy không biết từng chi tiết trên cây có bao nhiêu con sâu, hoặc rễ gốc thối từ lúc nào, nhưng biết rất chắc chắn là cây hoại rồi.

Vạn vật đều mang trong nó một cái lý. Điểm khó là tìm cho ra được cái lý ấy hiện lên ở chỗ nào.