Thân thể và tướng lý, tướng mệnh đàn bà

02/10/2017 20:38
Khoa hoc Tây phương chuyên dùng lối thực sự cầu thị trọng kinh nghiệm, cho nên khi phân tích con người chia ra thế nào giải phẫu học, tâm lý học

Tướng học là một cái học tối cổ của Trung Quốc, nghiên cứu thân thể con người qua cốt cách và ngũ hành trên ý nghĩa triết học phảng phất ít nhiều ý nghĩa thần bí, cho nên cần phải dùng khả năng ý hội mới có thể dễ đi vào. Chớ quá nệ vào phương pháp nghiên cứu khoa học Tây phương, đoán một việc, luận một điều đều căn cứ quy nạp pháp, diễn dịch pháp để tìm căn nguyên nguồn gốc. Nếu khoa học quá thì tài xem tướng chỉ đến bậc trung. Có ý hội được  cốt cách, ngũ hành  thì mới mong lên bậc cao.

Ý nghĩa triết học trong tướng lý thế nào ?

Khoa hoc Tây phương chuyên dùng lối thực sự cầu thị trọng kinh nghiệm, cho nên khi phân tích con người chia ra thế nào giải phẫu học, tâm lý học, sinh lý học, nhân chủng học. Trong khi tướng lý đặt trên nguyên tắc  tòng không hư xứ dĩ cầu ký chân  (từ chỗ không hư mà tìm đến chân lý).

Con người ta sinh ra bất đồng nên tâm lý cũng khác nhau. Cổ nhân thường nói:  Nhân tâm chi bất đồng cách như kỳ diện (ngĩa là: Lòng con người khác nhau như những bộ mặt con người).

Tâm lý với sinh lý không giống nhau nên nghèo giàu, thọ yểu, cùng thông đắc thất cũng không giống nhau. Bởi vậy, cổ nhân mới nói: Thành hồ trung, hình hồ ngoại, hiên ư tứ thể, ánh ư diện bối hữu mạc khả đào hĩ (nghĩa là: Bên trong thực như thế nào thì hiện hình ra bên ngoài như thế, nó hiện ra tứ chi và long mặt chẳng thể tránh được).

Tỉ dụ, sách tướng viết về dáng đi của người như sau:

Đi là sự di động của thân, hình tích lưu lộ ra bên ngoài. Quý nhân khi đi, khí thế từ trên giáng xuống lực tụ vào hai bàn chân cho nên mình không lắc lư, chân không loạn. Tiện nhân lúc đi thường co quắp (thiếu khí lực ở xương sống) lệch lẹo. Người chết yểu đi ẻo lả, nhuyễn nhược, nhẹ và bềnh bồng (vì khí suy). Người bôn tấu đi gout không xuống đất (vội vã, hấp tấp, le te). Người giảo quyệt đi đầu cúi xuống đất. Người cương nghị đi ưỡn ngực. Người buôn bán giỏi đi thân nặng chân nhẹ. Người có chức tước đi thân nặng, chân đặt cả bàn xuống đất chắc chắn vững vàng. Người thuộc loại tiểu lại đi vung vẫy tay (giao thủ), sức mạnh hiện lên co chân và bắp chân là hiện tượng mong nhanh nhẹn để làm đ5p lòng bề trên. Người quan chức to đi thân thể trông khôi vĩ, hơi thở ấn trong bụng, ngực. Đọc kỹ đoạn trên sê thất thế nào là ý nghĩa triết học của tướng lý.

Sách Thần Tướng Thiết Quan Đao  viết:

Ngôn quý tiện giả tồn hồ cốt cách

Ngôn trường đoản giả tồn hồ hư thực

nghĩa là: Xét lẽ quý tiện phải trông vào cốt cách, xét lẽ trường đoản phải tìm ở hư thực.

Câu này lại càng chứng tỏ ý nghĩa triết học tràn đầy tướng lý.

Xem tướng, cần phải căn cứ vào ý nghĩa triết học đó thì luận đoán mới vững được.

Đọc áng văn chương tuyệt tác  Hồng Lâu Mộng  của Tào Tuyết Cần, người ta có thể thấy phần nào cốt cách đám phụ nhân trong ý nghĩa triết học của tướng lý:

Vương Hi Phượng có đôi mắt con đan phượng, đôi mày lá liễu, thân mềm như mạ non, thể thái phong tao, mặt trắng, môi hồng, chưa mở miệng trông đã thấy vẻ cười.

Sử Vương Vân thắt đáy long ong, tay dài như vượn, diện mạo phi thường mỹ lệ, xa trông tưa như con bạch hạc đứng giữa hồ thu.

Diệu Ngọc thân thể noon nà, da dẻ trắng bụ bẫm nhưng ngạo mạn.

Tần Khả Khanh hình dung tiêu tuấn, tính cách phong lưu, đối với người an hòa thân thiện.

Giả Nguyên Xuân đoan trang, diễm lệ.

Giả Tích Xuân đạm nhã, mỹ tú.

Tiết Bảo Thoa mắt như hạt thủy hạnh, môi tựa trái anh đào, mi không vẽ mà cong vút như mi con phi thúy.

Nhân vật chính trong truyện là Lâm Đại Ngọc tự Tần Khanh biệt hiệu Tiêu Sương Phi Tử, nguyên quán Cô Tô. Tổ tiên đã bốn đời nối nhau làm công hầu đại quan. Cha nàng là Lâm Hải khoa giáp xuất thân quan chức đến ngự sử.

Lâm Đại Ngọc có đôi mắt chứa ẩn tràn đầy tình cảm trông vui mà thật không vui.

Nàng có nét mặt ưu sầu vạn cổ.

Nàng có thân hình yếu đuối.

Trông phong thái nhàn tĩnh như cành hoa soi bóng nước.

Dáng đi rõ ràng là cây liễu yếu trước gió

Tính tình cô tịch thanh cao.

Lên mười tuổi mẹ đã mất, ở với bà ngoại, bà yêu chiều nâng niu như viên ngọc quý. Cùng ở vườn Đại Quan có Giả Bảo Ngọc là anh em họ với Lâm Đại Ngọc. Buồng của Đại Ngọc cách buồng của Bảo Ngọc chẳng bao xa. Đôi trẻ gặp nhau hàng ngày nên tình căn nảy nở. Nhưng cả hai đều không dám tỏ lộ chỉ tìm cách nghe ngóng động tĩnh để mà vui mà buồn. Cả hai đề không ngờ mối tình nhẹ như mây thu ấy sau này lại là trái oan nước mắt.

Giả Bảo Ngọc dọn về Di Hồng Viện còn Lâm Đại Ngọc rời sang Tiêu Sương

Quán. Sự cách xa khiến cho hai người phải tìm cách trao tình khiến cho mối tình bị lộ.

Lâm Đại Ngọc vốn là  người  đàn  bà nhu  nhược  chất  dễ sầu  oán, mỗi  buổi chiều nàng thường ra vườn vun những cách hoa rụng lại rồi mang chôn. Nàng có làm hai câu thơ táng hoa:

Ngã kim táng hoa nhân tiếu si

Tha niên táng ngã tri thị thùy

(Hôm nay mình chôn hoa, người cười là ngây dại Năm tới mình chết biết ai là người chôn mình ?)

Cùng yêu Giả Bảo Ngọc có Tiết Bảo Thoa, nhưng Lâm Đại Ngọc bao giờ cũng thắng. Cuối cùng do bởi sự trái ngang của tình quyến thuộc không cho phép, thêm tình quên và bạc tình của Giả Bảo Ngọc đã đưa đến kết cục Lâm Đại Ngọc thổ huyết chết giữa đêm động phòng hoa chúc của người yêu, trước khi thở hơi cuối cùng, nàng vẫn còn gọi tên Bảo Ngọc, Bảo Ngọc.

Tướng cách của Lâm Đại Ngọc tất phải đi đôi với các chết thiên sầu vạn thảm ấy.

Đó chính là ý nghĩa triết học của tướng lý.