Nghiên cứu về cái miệng của nữ nhân, tướng mệnh đàn bà

Ngày: 2017-10-11

By member of dieutri.vn

Trước khi xem hình tướng của cái miệng thì phải xem lời ăn tiếng nói tức là khẩu đức của người đàn bà đã. Nói đĩnh đạc, ôn hòa vừa đủ những gì cần nói gọi là khẩu đức

André Prévot viết một câu châm biếm về cái miệng của đàn bà: Tantôt un bouton de rose, tantôt une pomme d’arrosoir (Có cái miệng trông như nụ hoa hồng, có cái miệng trông như hương sen bình tưới nước). Câu ấy cũng na ná như nhận xét của người nông dân Việt nam:  miệng chúm chím hoa đào và miệng rộng đến mang tai hay miệng như ống nhổ thầy đề

Miệng con người để ăn, để nói và theo nghĩa trẻ trung hơn, để hôn.

Vậy tướng miệng có liên hệ với thân phận, với tư cách và với ái tình.

Trước khi xem hình tướng của cái miệng thì phải xem lời ăn tiếng nói tức là khẩu đức của người đàn bà đã. Nói đĩnh đạc, ôn hòa vừa đủ những gì cần nói gọi là khẩu đức. Nói nhiều, nói láo, nói dối và nói tục gọi là khẩu tặc. Đàn bà miệng hương sen bình tưới nước hay miệng rộng đến mang tai thường phạm vào tướng khẩu tặc. Nữ nhân nên có cái miệng vừa phải, đều đặn, vuông vắn.

Trong sách Tướng Nhân thuật, tác giả Phong Vân tử đưa ra 12 loại miệng:

1) Miệng mỉm cười (vi tiếu chi khẩu), nhân tính ôn hòa

2) Miệng hay than thở (ngữ ai chi khẩu), biểu thị sự uất ức

3) Miệng chấn tĩnh (chấn tĩnh chi khẩu) biểu thị sự quyết tâm

4) Miệng đờ đẫn (thái nhân chi khẩu) biểu thị tính bừa bãi, vô trật tự, buông thả

5) Miệng cẩn thận (cẩn thận chi khẩu) biểu thị khả năng giữ kín mọi việc

6) Miệng phong nhã (phong nhã chi khẩu) biểu thị tính làm dáng, hào hoa

7) Miệng quá rộng không thu vào được (khoát đạt chi khẩu) biểu thị tính không kiềm chế tham thực cả đa ngôn

8) Miệng mọng như trái nhót (tiếp hấp chi khẩu) biểu thị tính đa tình

9) Miệng rộng mà lệch (thiên thoát chi khẩu) biểu thị tính chất dễ bị người khác khó chịu hoặc ghét bỏ.

10) Miệng  cười  lạnh nhạt (lãnh tiếu chi khẩu) biểu thị  tâm địa độc hoặc ưa chế riễu

11) Miệng hễ nói là buông lời oán khổ (oán khổ chi khẩu) biểu thị dễ gặp tai họa hoặc tang chế

12) Miệng hung ác (hung ác chi khẩu) biểu thị tâm địa tàn bạo, cuộc đời gian chuân, nghèo khổ

Mười hai loại miệng của Phong Vân Tử vừa nói về khẩu hình vừa nói về khẩu đức, trong đó có vài loại miệng cần phải chua thêm hình thái để có thể nhận ra được dễ dàng. Tỉ dụ, miệng chấn tĩnh thì đôi môi mỏng ngậm lại thật khít khao, ta thường bảo là môi cắn chỉ - miệng đờ đẫn thì môi trề hoặc trệ thiếu sinh sắc - miệng cẩn thận thì môi vuông vắn, ngay ngắn, ngậm lại không thấy kẻ hở, nếu môi thâm là nham hiểm, môi hồng là chính nhân - miệng phong nhã, đôi môi dầy vừa phải, hồng nhuận, goc miệng đưa lên như vầng trăng treo.

Khẩu đức căn bản của đàn bà thu vào mấy chữ: Kho vô oán ngôn, nghĩa là: không bao giờ có một lời oán cảnh ngộ khó khăn của mình, bình tĩnh nhẫn nại đế mà vượt gian nan. Như vậy là toàn khẩu đức.

Thế nào là tướng cách tốt của miệng?

Tướng sư Hứa Phụ dạy rằng:

Khẩu dốc như cung (góc miệng như hai đầu dây cung uốn lên). Nếu góc miệng chạy xuống trông miệng giống như cái thuyền lật úp là hỏng, nếu uốn lên thì phải ngang chứ đừng chúc xuống.

Khẩu dốc như cung vị chí tam công (được góc miệng như hai đầu cung uốn cong khả dĩ cáng đáng nổi ngôi vị tam công, đàn bà duyên dáng cao sang).

Khẩu như hàm đan (miệng như ngập son). Đôi môi đỏ hồng, nếu môi như gan gà là cực xấu, đa dâm và bại nghiệp.

Khẩu dốc hàm đan bất thụ cơ hàn (miệng đỏ như son không bao giờ sợ đói rét) Đàn bà môi hồng nhuận, chồng yêu quý vô cùng.

Khẩu phương tứ tự (miệng như chữ tứ). Môi trên, môi dưới đều nhau cân xứng, không môi mỏng môi dầy, thật ngay ngắn, vuông vắn, môi phải có gờ môi nhưng không được môi cong.

Khẩu phương tứ tự, tín nghi chân. Miệng chữ tứ là người có tín nghĩa.

Hội đủ ba điều mà Hứa Phụ dạy là tướng miệng tốt.

Thế nào là tướng cách tốt của miệng?

Tướng sư Hứa Phụ dạy rằng:

Khẩu như súc nang, như suy hỏa, tiêm nhi phản thiên nhi bạc, hữu văn lý nhập khẩu  (Miệng như túi rúm, như thổi lửa, mỏ dẩu môi cong, miệng lệch môi mỏng, có vết chạy vào miệng). Hết thẩy đều là tướng cách xấu của miệng.

Khẩu như súc mang, ngã tử vô lương.Miệng như cái túi thắt làm ăn lấm lưỡi mà chẳng đủ ăn.

Khẩu như suy hỏa cơ hàn độc tọa. Miệng chụm lại như thổi lửa nghèo khổ cô đơn.

Tung lý nhập khau ngã tử. Có vết chạy vào miệng chết đói.

Tiêm nhi phân, thiên nhi bạc tiện bần.Miệng nhọn môi cong, môi mỏng miệng lệch, nghèo hèn.

Những kiểu miệng tốt của nự nhân trong Cổ tướng thư gồm có:

Anh đào khấu: (Trái anh đào)

Miệng vừa phải, đôi môi dầy dặn, hồng nhuận, không thiên lệch, hàm răng đều tăm tắp, hơi thở thơm mát.

Có bài thơ rằng:

Anh đào khau đại thần yên chi

Si tự lựu nha mật thả nghi

Tiếu như hàm liên tình hòa sướng

Thông minh bạt tụy lụy tử bào y

Nghĩa là:  Miệng trái anh đào là miệng lớn vừa phải, môi ươn ướt đầy đặn. Răng đều như hạt lựu. Cười phảng phất hương thơm, tính tình ôn nhu. Người thông minh giỏi giang sẽ được mang áo gấm đỏ của triều đình.

Ngưỡng nguyệt khấu: (Vầng trăng treo)

Hai góc miệng uốn lên như vành trăng, răng trắng nõn nò, môi như tô son.

Có bài thơ rằng:

Khẩu như ngưỡng nguyệt thượng triều loan

Si bạch thần hồng tự mặt đan

Mãn phục văn chương thanh giá mỹ

Cánh năng phú. quý liệt triều ban

Nghĩa là: Miệng như vầng trăng uốn lên trên, răng trắng, môi tựa son tô, học hành giỏi giang tiếng tăm tốt lại thêm phú quí.

Những kiểu miệng xấu của nữ nhân trong Cổ tướng thư gồm có:

Suy khẩu hỏa: (Chụm như thổi lửa)

Nói nôm na là mả dẩu, cái thế hàm khum khum làm cho miệng thành nhọn.

Có bài thơ rằng:

Khẫu trung suy hỏa khai bất thâu

Chủy tiêm y thực khổ cưỡng cầu

Sinh thành thử thau đa bần yểu

Ấm hạ tu giao phá thả hưu

Nghĩa là:  Miệng giống như người thổi lửa, khi cười lúc ngậm lại cảm thấy khó khăn, mỏ dẩu y thực thiếu hốn đừng nên cưỡng cầu uổng công, người có miệng này phi bần tắc yểu, dù bố mẹ có của để cho con càng đến phá tổ nghiệp thôi.

Chư khẩu: (Miệng heo)

Môi trên dày, môi dưới mỏng, han bên mép như có vết dài ươn ướt.

Có bài thơ rằng:

Chư khẩu thượng thần trường thô khoát

Hạ thần tiêm tiểu dốc diên lưu

Dụ nhân sàm báng tâm nham hiểm

Lạc tại đồ trung bán lộ hưu

Nghĩa là:  Miệng heo thì môi trên thô khoát, môi dưới mỏng nhọn, hai góc miệng như có rãi chẩy là người gian hiểm chuyên nói xấu hại người, làm việc gì cũng chỉ đi được nữa đường

Phúc thuyền khẩu: (Như cái thuyền lật úp)

Miệng bét be không gọn ghẽ, khẩu dốc chảy xệ xuống, trông như cái thuyền bị đắm lật úp.

Có bài thơ rằng:

Khẩu dốc như phúc phá thuyền

Lưỡng thần ngưu nhục sắc yên liên

Nhân phòng thử khấu đa vi cái

Nhất sinh bần khổ bất tu ngôn

nghĩa là: Góc miệng không gọn trông như mũi thuyền đằm lại chảy xệ xuống cằm giống miệng cá, đôi môi thâm thịt trâu. Có miệng này là di ăn mày nếu không cũng suốt đời bần khổ.

Đời vua Khang Hi tam thập bát niên, cuối mùa xuân, hoàng đế tuần du Giang Nam lần thứ ba.

Mấy lần tuần du này đã làm thành một biến cố lịch sử do việc phục dịch nghêng đón khiến dân cùng tài tận.

Truyền thuyết kể lại, trong cuộc đệ tam thứ tuần du, vua Khang Hi khi tới Thượng Nguyên huyện (tức thủ phủ Nam Kinh ngày nay), ông cải trang làm thường dân để vi hành thám sát, đi trước đạo quân tùy tòng bốn ngày, chỉ đem theo chừng 10 vệ sĩ bí mật bảo vệ.

Tháng 4, ngày Đinh Mùi, hoàng đế ngẫu nhiên gặp một quán rượu nhỏ bên đường. Đây là tửu quán do một quả phụ họ Chu đứng làm chủ, với cái tên quán rất phong nhã Lục Triều Cư. Khang Hi đế đã bị cái tên quán hấp dẫn ấy đưa ông vào uống rượu và nghe ca nhi hát, rồi gặp chủ nhân Chu Hương.

Hôm đó, nàng mặc tòan lụa lắng trông đẹp thanh nhã tuyệt tục khiến Khanh Hi ưa thích mới sai vệ sĩ mời nàng tới tiếp rượu.

Chu Hương có đôi mắt tinh đời, biết rằng hẳn đây chẳng phải là khách tầm thường cho nên lúc tiếp rượu nàng rất mực cung kính làm Khanh Hi càng yêu mến hơn. Ngồi mới chừng khoảnh khắc, Chu Hương đã tạ từ vào trong nhà rồi không xuất hiện nữa.

Rượu mất giai nhân trở nên nhạt, lại đang thích uống, Khanh Hi đế đưa mắt cho vệ sĩ bảo mời chủ nhân.

Chu Hương bước ra dùng lời nhỏ nhẹ khéo từ chối, đồng thời gọi một nữ thị thay mình.

Khanh Hi chẳng chịu, đứng dậy đi thẳng vào nhà trong. Chu Hương đành phải mời ông khách sỗ sàng này ngồi và hựu tửu đãi khách.

Hoàng đế tửu hứng bốc cao, say như điên ra hiệu cho các vệ sĩ rút lui hết, để một mình ở lại cùng Chu Hương.

Phần nàng, sau vài tuần rượu thì tình ý cũng lai láng.

Đêm ấy, Khanh Hi nhất định đòi ngủ tại đây, Chu Hương nhất định cự tuyệt, hoàng đế nhất định bảo sẵn sàng trả bất cứ giá nào để đổi lấy nhất tịch chi hoan.

Bình minh, cả Khanh Hi và Chu Hương đều dậy sớm lắm. Hai người nhàn bộ trên con đường um tùm hoa lá còn đọng đầy những gịot sương. Chung quanh chẳng có lấy một bóng người.

Khanh Hi bỗng dừng lại, rút trong người ra một chiếc túi bằng gấm nói đêm qua ông đã đánh cắp của nàng, hôm nay ông xin nàng tặng ông bảo vật này. Vừa trông thấy chiếc túi, thần sắc Chu Hương đại biến, nàng  vội vã cầm lấy nó, xin khách trả mình và xin tặng lại một kỷ vật khác.

Thái độ của  Chu Hương  khiến Khanh Hi nghi hoặc, ông  liền  nhìn  mấy chữ

vàng thêu thấy có bốn chữ  Hoành Phiên Bát Thế. Chu Hương hiểu rằng chẳng thể dấu được nữa mới thú thật thân thế của  mình, nàng là con cháu tám đời của Hoàng Vương, anh em với vua Minh Thái Tổ.

Khanh Hi thở dài thương xót.

Đến lượt Chu Hương hỏi thân thế khách.

Khách cũng chẳng giấu làm gì và tự xưng mình là hoàng đế, rồi ngỏ ý muốn đưa Chu Hương vào cung cùng hưởng phú quí.

Chu Hương nhỏ nước mắt mà từ tạ nói nàng không thể mang thân phận vương tôn vong quốc để hầu hạ tân triều, vả lại nếu có con với nhau thì huyết thống nhà Thanh với huyết thống nhà Minh thành hỗn loạn, nàng hết lời để Khanh Hi quên nàng đi.

Khanh Hi đế năn nỉ mãi và đòi sẽ trở lại tìm nàng, ông hỏi lần chia tay này nàng có đòi gì không. Chu Hương nói: Lăng tẩm vua Minh Thái Tổ lâu nay hoang vu lạnh lẽo, xin cho người tu sửa.

Khanh Hi gật gù hứa làm đúng như thỉnh cầu của nàng.  Vừa lúc Tuần phủ Giang Nam đem xe giá tới rước, Khanh Hi cầm tay Chu Hương chưa nỡ rời, bèn tháo viên bội ngọc đeo bên mình tặng nàng. Chu Hương theo tiễn xa giá đến đầu đường, chực sẵn ở đây quân sĩ, quan cách cờ quạt rợp trời.

Một vệ sĩ phi ngựa tới, chắp tay kính cẩn nói xin nàng kín miệng.

Chu Hương âm thầm trở về quán, thu thập hành lý êm thấm rời Thượng Nguyên huyện. Nàng có để lại một phong thư ở tửu quán giao cho người thân giữ cất.

Vài ngày sau, Khanh Hi đế về tìm kiếm thì giai nhân đã như tăm cá bóng chim, đọc thư chỉ thấy vài hàng ôn tồn tạ từ cùng nhắc lời thỉnh cầu tu sửa lăng tẩm và xin đừng nghĩ tới nàng nữa.

Khanh Hi buồn vô hạn, ông mật sai vệ sĩ đi khắp thâm sơn cùng cốc tìm Chu Hương. Nghe phong phanh ở Giang Ninh, Khanh Hi thân chinh tới đó tìm nàng. Nhưng cũng không gặp được nàng.

Tình duyên ngắn ngủi chỉ một đêm thôi mà Khanh Hi mang mãi nỗi nhớ nhung không quên.

Để vơi bớt tình sầu, hoàng đế đích thân tới lăng tẩm Minh Thái Tổ cắt đặt mọi việc tu sửa, thậm chí ông còn thắp hương tế mộ. Cả dân gian cùng triều đình đều ngạc nhiên về thái độ lạ lùng này. Lại chính tự tay viết 4 chữ  Trị Long Đường Tống cho khắc và thếp vàng trên cổng vào lăng.

Cổ tướng sử cho biết sức mạnh quyến rũ của Chu Hương nhờ đôi môi uyển nguyệt hàm đan, tựa vành trăng, đỏ như ngậm son, đàn ông mê không bao giờ quên.