Luận về hồng nhan bạc mệnh, tướng mệnh khảo luận

Ngày: 2017-10-1

By member of dieutri.vn

Phiêu bạt giang hồ là ca kỹ, lẽ mọn nghĩa là không phải chỉ có nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương mà thôi

Chuyện Lục Châu, chuyện Dương Quý Phi và chuyện Vương Chiêu Quân tất cả đều phảng phất một không khí hồng nhan bạc mệnh.

Không phải chỉ riêng ba người ấy, lịch sử Trung Quốc có ghi lại hơn một trăm người đàn bà lừng danh tài sắc thì tới bảy phần mười bạc mệnh tỉ như: Vương Thúy Kiều, Triệu Phi Yến, Thu Hồ Thê Nữ Anh, Yên Hậu, Mai Phi, Đào Hoa Nữ, Ngọc Đường Xuân, Vương Triều Vân, Chu Thục Chân, Hương Phi, Thu Cẩn, Tần Lương Ngọc. v.v...

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung, đối với số phận hồng nhan thật không sai. Bạc mệnh là số phận mong manh.

Phận hồng nhan có mong manh

Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương

Bạc mệnh cho số kiếp hồng nhan có nhiều hiện tượng khác nhau:

a) Chết rất sớm (bị bệnh chết, tao loạn mà chết hay tự sát mà chết).

b) Sự nghiệp không lâu bền (vì chồng chết như Ngọc Hân công chúa, bà Hamilton, Katia, Jacqueline Kennedy).

c) Phiêu bạt giang hồ là ca kỹ, lẽ mọn nghĩa là không phải chỉ có nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương mà thôi.

Hồng nhan là người đàn bà trời ban cho sắc đẹp diễm lệ đi đôi với tâm hồn mẫn tiệp tài hoa khiến cho nam phái phải mê mệt.

Còn những người đàn bà xấu thì chẳng có gì đáng kể, làm sao có sóng gió nổi lên mà phận mong manh. Riêng những người đàn bà xấu nhưng tướng tốt thì một đời sung sướng, ở đâu ra bạc mệnh. Vậy thì hồng nhan bạc mệnh ta có thể khẳng định là số phận gian truân của giai nhân.

Qua kinh nghiệm của ngàn xưa, người đàn bà tuyệt sắc mà có cuộc đời hạnh phúc viên mãn rất hiếm. Tướng pháp có nói đẹp là dấu hiệu của hồng nhan bạc mệnh.

Lấy con mắt nhà xã hội học mà nhìn thì sức mạnh của nhan sắc và sức mạnh của tài hoa như một ngọn lửa nung đúc tâm can người đàn bà. Sắc đẹp ấy, tài hoa ấy tất nhiên là không chịu đi vào con đường an lành buồn chán mà chạy sang nẻo phong ba chìm nổi và khinh bạc.

Chuyện tiểu thuyết “Bà Bovary” mà Gustave Fraubert phỏng theo đời thật của Delphine Delamare là một điển hình. Hồ Xuân Hương, George Sand là những chứng cớ

Thân em thì trắng phận em tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Một lẽ nữa, giai nhân tuyệt sắc thường là mục tiêu chú ý của nhiều người. Có nhiều người chú ý tất nhiên phải có tranh đoạt. Ở sự tranh đoạt ấy mà thân phận hồng nhan mới phiêu bồng chìm nổi. Thân thế nàng Angélique, nhân vật tiểu thuyết của Serge Golon là một sự thật nếu ta đem so với cuộc đời của Marianne, của Messaline, của Mata Hari, của Castiglione, của Victoria Woodhull v.v...

Hồng nhan bạc mệnh thường thấy nhiều trong những buổi tao loạn nhiễu nhương. Vì đổi thay, bất trắc tạo thành cơ hội cho hồng nhan phải xuất diện. Đồng thời, lúc tao loạn nhiễu nhương lại có lắm anh hùng hào kiệt. Trong lịch sử, hiện tượng hồng nhan đi song đôi với nhau luôn luôn

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

Kiều sở dĩ gặp được Từ Hải thì căn nguyên cũng bởi nàng đẹp. Có đẹp làn thu thủy nét xuân sơn thì mới bán mình được chứ. Nếu xấu thì ai mua? Vậy thì đẹp và tài hoa chính là đầu mối của số kiếp của bạc mệnh.

Nói thế không có nghĩa là đàn bà cứ nên xấu như ma lem để cho đỡ khổ.

Tướng pháp lập ra để đi tìm cái đẹp chứ không cổ lệ có cái xấu. Có điều đẹp tướng khác đẹp người. Nếu đẹp người mà xấu tướng thì thà bớt đẹp người đi để đẹp tướng còn hơn. Còn như đàn bà xấu quá thì là loại nô tỳ ngu độn.

Đẹp cả người lẫn đẹp cả tướng mới thật là đẹp theo quan niệm của tướng học, lẽ đương nhiên cái nhân gian phàm tục này đâu có nhiều, hoàng hậu Ba Tư, Farah Dibah cả tướng lẫn sắc đều hoàn toàn. Đẹp nói cho đúng chỉ là động lực đẩy mạnh người đàn bà đến bạc mệnh vì người đàn bà ấy mang một tướng khuyết hãm về hồng nhan rồi, đàn bà xấu thì cái xấu là để thắng hãm bớt hoàn cảnh bạc mệnh do khuyết hãm trên tướng cách gây nên. Không phải người đàn bà xấu là không bạc mệnh. Như đã biết, mắt thầy tướng với mắt thế tục nhìn cái đẹp rất khác nhau. Đã đành tục hay tướng thì cái đẹp để thưởng thức đều mang cùng quan điểm. Nhưng nếu là xem tướng thì tướng nhãn với tục nhãn phải xung đột.

Ngắm mỹ nhân, tướng và tục đều công nhận vẻ “trắng nõn như bông”, “yểu điệu” là đẹp. Nhưng tục nhãn ngưng ở đây, còn tướng nhãn quan niệm khác hẳn.

Sự việc xảy ra xung quanh ta hàng ngày ai không thấy rằng các bà vợ ở vị chánh thất thường xấu và các bà vợ trẻ ở vị thiếp hầu thường là đẹp. Cho nên các cụ ngày xưa mới nói:

Thú thê thủ đức, thú thiếp thủ sắc (lấy vợ tìm đức, lấy thiếp tìm sắc).

Số tướng “hồng nhan bạc mệnh” và “hồng nhan khuyết đức” vẫn đẩy người đàn bà vào kiếp lẽ mọn hay ca kỹ. Mà lạ, người mang tướng số “hồng nhan” phần lớn đều có cái đẹp về sắc.

Thêm nữa, ca kỹ và lẽ mọn đi cặp với nhau một cách rất biện chứng. Trước phải có ca kỹ tức là chị em liễu ngõ hoa tường thì sau mới nảy sinh ra việc tìm hoa hỏi liễu, để đưa đến câu chuyện lấy cô đầu, con hát làm thiếp. Tướng ca kỹ rơi vào nghề ca kỹ, để chuyển thành thân phận thiếp hầu, bởi vì làm ca kỹ phải cần sắc cho đẹp. Phàm anh đàn ông đi tìm thiếp ắt phải lấy chữ sắc làm điều kiện. Kết quả, cái đẹp về sắc hay dẫn đến “tiện cách” trong tướng số.

Do đó, sách tướng mới khẳng định rằng sắc đẹp phần lớn là tiện tướng chứ không phải là quý tướng, điều này chẳng phải là điều cổ giả đâu. Ngay hiện tại, nếu nhìn vào thế giới điện ảnh, thế giới của minh tinh ca vũ, người ta sẽ tìm ra vô khối tướng hồng nhan, phong trần khuyết đức, bạc mệnh trên mặt nhưng vẻ đẹp mê hồn. Sung sướng thì có sung sướng nhưng trong lòng chất chứa biết bao buồn tủi. Hãy đọc báo chí nói về Elizabeth Taylor với những mối tình tan vỡ, với những xì-căng-đan, nói về Brigitte Bardot đã có lần tự tử, nói về Marilyn Monroe, nói về Lâm Đại, nói về Greta Garbo, nói về Gail Russen.

Ngược hẳn lại là những người vợ chính thất, những bà nhất phẩm phu nhân, đại đa số không phải là các nữ nhân mạng “sắc tướng mỹ”. Căn cứ vào sách tướng lý thì cái đẹp thường thường là xấu về nhan sắc. Trở về câu chuyện bữa trước, các thầy họp nhau đi xem tướng các “bà” trong dạ hội tại tư thất của Ngô Bội Phu. Sau khi xem thấy ở đây toàn là những ca kỹ xuất thân, họ lấy làm lạ tự hỏi: “Thế còn những bà vợ chính thất đâu?” Đây nhất định không phải các bà chính thất. Họ liền đem câu hỏi ấy đến người nhà thân cân của Ngô Bội Phu nhờ giải thích lý do. Bà họ Trương thấy họ thắc mắc điều này thì cười lên như nắc nẻ mà nói:

- Ở đây toàn bà đẹp, còn một lô bà xấu ở trên kia kìa.

Bà họ Trương chỉ tay vào mấy gian nhà rộng lớn trên có đề mấy chữ “Phu nhân sảnh”.

Thì ra đây mới là nơi cao quý nhất trong nhà. Ngô Bội Phu phu nhân vốn rất coi trọng địa vị chánh thất của các phu nhân nên giành riêng mấy gian lớn để tiếp đãi. Phàm những người xuất thân ca kỹ hoặc thuộc phận lẽ mọn, thiếp hầu đều không được vào đây.

Đàm tiên sinh đưa mắt một lượt nơi tụ tập chừng hơn 20 bà đang đánh bài.

Lạ thay. Quá nửa trông rất cũ kỹ, không đẹp nhưng tướng mạo của người nào người ấy đều “đoan trang”, “nhân tĩnh”, “minh mị”. Trên mặt tuyệt nhiên không có dấu vết của trụy lạc phong trần. Hết thảy đều là “kết phát phu nhân” (Suốt đời không trăng hoa, lắm chồng). Dáng dấp không ti hào cái vẻ “xuất tướng hồng hạnh” hay “tì bà biệt điệu”. Tính tất cả gồm 24 bà, chia làm hai loại: loại danh phận cao nhưng nhan sắc xấu, loại vừa phải nhưng nhan sắc dễ ưa.

Có điều thú vị là đa số bà bộ trưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng đều thuộc lớp người đồng ruộng một chữ không biết nhưng đều mang tướng cách cao quý.

Thế mới phục, sách tướng đã dạy rằng:

- Tướng mạo đàn bà đáng sợ là cách “mỹ trung hữu xú”. Trái lại, ”xú trung hữu mỹ” mới thật là quý tướng. Cách tốt thứ nhì là kiên trinh ôn nhu. Cách tốt thứ ba là khí độ và tài tinh. Còn cái đẹp bên ngoài càng đẹp bao nhiêu càng hạ cách bấy nhiêu.

Có lẽ trên điểm này, Jean Jacques Rousseau nói rõ hơn trong bài “Faillite de la beauté”. Ở đó Rousseau yêu một người đàn bà hết sức thiên nhiên mà ông gọi là “Femme naturelle”. Người đàn bà ấy có một tâm hồn dễ chịu tuy không sáng chói, một tinh thần vững mạnh mà không cần sâu xa và ông kết luận: Người đàn bà thiên nhiên thật là lý tưởng vì họ làm cho đàn ông hạnh phúc một cách thiên nhiên không cầu kỳ, giả tạo, phiền toái.

Với Rousseau, ông không thích người đàn bà bốc lửa (L’idéal pot au feu).

Rousseau rất gần với nguyên tắc tướng học về phụ nữ của Phương Đông. Đời nhà Hán có nàng Triệu Phi Yến, cha nàng là một nhạc sỹ nổi tiếng đương thời. Cha mất, chị em nàng được một nhà họ Triệu nuôi nấng. Triệu Phi Yến càng lớn càng đẹp, thân hình kiều diễm nhẹ như mây bay lại giỏi ca vũ, chuốc rượu nên Phú Bình Hầu Trương Phóng yêu lắm, nhân bữa đại yến trong cung, Trương Phóng đem chị em Triệu Phi Yến vào ca múa. Vua Hán Thành Đế gặp Phi Yến mê không muốn rời nên ngỏ ý bảo Trương Phóng để hai nàng ở lại trong cung. Từ ngày có hai chị em họ Triệu, vua Hán chẳng bao giờ ngó ngàng đến các cung phi khác. Cả đến Hoàng hậu cũng phế bỏ luôn để đặt Triệu Phi Yến lên ngôi chánh cung.

Tuy là vóc liễu mình mai đấy nhưng Phi Yến có một khả năng tình dục phi thường. Dĩ nhiên Hán Thành Đế không bao giờ thỏa mãn nổi, Phi Yến mới tư thông với tên thị vệ. Việc bị phát giác. Nhờ em là Triệu Hợp Đức khóc lóc xin cho nên Phi Yến chỉ bị phán quyết giam vào lãnh cung.

Phần em nàng là Hợp Đức thì ngày đêm đẩy vua Thành Đế vào biển sắc dục đến nỗi ông kiệt sức băng hà. Khi ông chết rồi Hợp Đức cũng chán sống uống thuốc độc mà chết luôn.

Còn Triệu Phi Yến, đến đời vua Hán Bình Đế thì bị giáng xuống làm thứ dân đuổi ra khỏi cung, nàng liền đi theo Vương Mãng làm loạn và làm vật hy sinh cho Vương Mãng đến phải đâm cổ mà chết. Loại đàn bà bốc lửa thường gặp những cảnh ngộ thê thảm. Lửa đây là lửa dâm và lửa tham vọng đều thuộc tính chất đàn bà khuyết đức.

Cũng một tích xưa của Tầu kể rằng:

Tại kinh đô Trường An người ta thấy xuất hiện một thiếu nữ ăn mặc rách rưới, tay mang cây đàn tì bà rất quý vừa đàn vừa hát để xin tiền. Tên cô bé là Hồng Hồng, quê quán ở đâu, lý lịch thế nào không ai biết. Chỉ biết rằng nàng hát thật hay và không bao giờ chịu bán cây tì bà quý giá dù có người đã trả giá rất cao.

Hồng Hồng không kêu nài van xin, nàng hát xong ai muốn cho tùy ý. Đi hát như vậy từ lúc 4 hay 5 tuổi, có một vị tiến sĩ tên là Vi Thanh rất ưa âm nhạc và thích giọng của Hồng Hồng nên thường đến tiệm ăn để nghe nàng hát. Vi Thanh hỏi Hồng Hồng về gia thế, nàng lãnh đạm cự tuyệt không chịu nói.

Vi Thanh cũng là người giỏi coi tướng thấy Hồng Hồng mang trong người khí độ cao ngạo như đóa lan rừng mọc chót vót ở trên cây cao u ẩn, cô phương tự thưởng (tự mình thưởng thức hương thơm cô độc). Vóc dáng nàng như mai liễu gió thổi bay, thuộc loại bạc phận nhưng lại rất thanh tú, không đến nỗi phải chịu đói khát, lê la như vậy.

Vi Thanh lúc nào cũng ân cần với Hồng Hồng, lâu dần nàng cũng không lãnh đạm với Vi Thanh nữa. Vi Thanh tìm mọi cách để cải thiện cuộc sống của nàng và hai người trở thành đôi bạn. Hồng Hồng mới thổ lộ tông tích nàng vốn con nhà sĩ tộc vì gia nạn nên mới luân lạc.

Nhờ Vi Thanh, Hồng Hồng được giới thiệu trình diễn ở những xã hội cao quý, danh tiếng nàng mỗi ngày mỗi vang lừng.

Trong khi ấy thì Vi Thanh âm thầm yêu nàng, chàng soạn nhiều khúc ca tuyệt tác cho Hồng Hồng. Văn chương tiến sỹ hợp với giọng ca thiên phú biến Hồng Hồng thành một tác phẩm tuyệt vời.

Thấy bao nhiêu vương tôn công tử và kẻ quyền thế say đắm mình, Hồng Hồng lo sợ vì nàng chỉ yêu Vi Thanh nên nàng đánh bạo ngỏ ý muốn làm vợ Vi Thanh

Vi Thanh tiếc cái tài của Hồng Hồng nên muốn nàng cứ sống cho âm nhạc thêm vài năm nữa rồi lấy nhau cũng chẳng muộn.

Ngờ đâu danh tiếng Hồng Hồng lọt vào tai Bảo Lịch hoàng đế, ông vua mới kế vị rất trẻ tuổi, cũng rất mê sắc đẹp, tiếng ca.

Bảo Lịch hoàng đế gặp mặt Hồng Hồng mê ngay nên cho lệnh đưa nàng vào cung, phong cho nàng chức Khúc Nương (người trông coi ca khúc) nàng chẳng hy vọng bao giờ về với Vi Thanh nữa. Thời gian trôi đi buồn thảm, tấm lòng tương tư của Hồng Hồng với Vi Thanh khiến nàng héo hắt thành bệnh.

Vua cho uống thuốc, nàng lén đổ đi. Để rồi đến một bữa xuân yến, Hồng Hồng gục xuống chết đi khi bài ca mới được nửa chừng, kết thúc một kiếp hồng nhan bạc mệnh.