Hội chứng Guillain Barré (Guillain Barré Syndrome)


Ngày: 19 - 11 - 2012

Hiện không có phương thức chữa trị hội chứng Guillain-Barre, nhưng các liệu pháp điều trị có thể làm nhẹ bớt mức độ trầm trọng của bệnh và làm tăng quá trình hồi phục ở phần lớn các bệnh nhân.

Hội chứng Guillain-Barré (phát âm là ghee-yan bah-ray) là một chứng rối loạn do hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công một phần hệ thần kinh ngoại biên. Những triệu chứng đầu tiên của chứng rối loạn này bao gồm nhiều cấp độ của những cảm giác suy yếu hoặc tê buốt ở hai chân. Những cảm giác suy yếu và bất thường thường lan truyền tới hai cánh tay và phần trên của cơ thể.

Những triệu chứng này có thể gia tăng cho đến khi các cơ không còn có thể sử dụng được nữa và người bệnh gần như liệt hoàn toàn -- đây được coi là một trường hợp cấp cứu y khoa. Người bệnh thường được hỗ trợ thở bằng máy.

Mặc dù đa số bệnh nhân hồi phục được, thậm chí từ những trường hợp nghiêm trọng nhất của hội chứng Guillain-Barré nhưng vẫn có một số người vẫn tiếp tục cảm nhận mức độ suy yếu.

Hội chứng Guillain-Barré là một bệnh lý hiếm. Bệnh thường xảy ra một vài ngày hoặc vài tuần sau khi bệnh nhân gặp phải những triệu chứng về hô hấp hoặc nhiễm trùng siêu vi trùng đường dạ dày - ruột. Thỉnh thoảng, hội chứng xuất hiện sau phẫu thuật hoặc chủng ngừa. Diễn tiến của chứng rối loạn có thể tính theo giờ hoặc ngày, hoặc có thể kéo dài tới 3 đến 4 tuần.

Không thể giải thích được tại sao hội chứng Guillain-Barré lại xảy ra ở một số người này nhưng không ở những người khác, hay điều gì đã làm cho bệnh tiến triển. Những gì các nhà khoa học biết là hệ miễn dịch của cơ thể bắt đầu tấn công chính cơ thể, dẫn đến một bệnh lý được gọi là bệnh tự miễn dịch.

Hiện không có phương thức chữa trị hội chứng Guillain-Barre, nhưng các liệu pháp điều trị có thể làm nhẹ bớt mức độ trầm trọng của bệnh và làm tăng quá trình hồi phục ở phần lớn các bệnh nhân. Có nhiều phương thức đề điều trị những biến chứng của căn bệnh này. Hiện tại người ta đang áp dụng phương pháp tách hồng huyết cầu khỏi dịch tương và globulin miễn dịch liều cao.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu sự hoạt động của hệ miễn dịch để tìm ra những tế bào nào chịu trách nhiệm thực hiện việc tấn công vào hệ thần kinh.

Source: National Institute of neurological Disorders and Stroke (National Institute of Neurological Disorders and Stroke).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Xem theo danh mục