Hội chứng sau viêm tủy xám (Bại liệt) (Post-Polio Syndrome)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Những người đã chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám nên lắng nghe cơ thể của mình. Tránh những hoạt động gây đau nhức – đây là một dấu hiệu cảnh báo.


Viêm tủy xám (bệnh bại liệt trẻ em) đã được diệt trừ tận gốc ngay từ sớm ở từng quốc gia trên thế giới kể từ khi có sự chấp thuận cho phép sử dụng các vắc-xin chủng ngừa là Salk (1955) và Sabin (1962).

Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization -WHO) ước tính có 12 triệu người trên toàn thế giới bị tàn tật ở một số mức độ do bệnh viêm tủy xám gây ra. Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia (National Center for Health Statistics) ước tính ở Hoa Kỳ có một triệu người mắc bệnh viêm tủy xám còn sống sót. Qua thống kê cho thấy có khoảng 433.000 người trong số họ bị liệt do một số dạng tình trạng sức khỏe suy yếu gây nên.

Đã từ lâu đa phần những người chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám đã sống một cuộc sống tích cực, họ đã không còn nhớ về căn bệnh viêm tủy xám, tình trạng sức khỏe của họ đều ổn định. Vào cuối những năm 1970, những người chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám thấy xuất hiện một số vấn đề mới như mệt nhọc, đau đớn, các vấn đề về hô hấp hoặc nuốt kèm theo là tình trạng ốm yếu thêm – giới y khoa gọi là "hội chứng sau viêm tủy xám (PPS)."

Một số người trải qua tình trạng mệt nhọc liên quan đến bệnh hội chứng sau viêm tủy xám ví dụ như tình trạng mệt lử giống như mắc cúm diễn tiến theo chiều hướng trầm trọng đi mỗi ngày. Kiểu mệt nhọc này cũng có thể gia tăng khi hoạt động thể chất và có thể gây khó tập trung và nhớ. Những người khác gặp phải tình trạng mệt mỏi cơ bắp, một dạng cơ bắp yếu tăng thêm khi vận động và thuyên giảm khi nghỉ ngơi.

Cuộc nghiên cứu hiện đang được tiến hành cho thấy rằng quãng thời gian một người đã sống với những tàn dư của bệnh viêm tủy xám cũng dài như của một yếu tố nguy cơ như tuổi thời gian. Dường như những ai đã trải qua tình trạng tê liệt ban đầu trầm trọng nhất có được khả năng phục hồi chức năng lớn nhất cũng gặp nhiều vấn đề hơn những người khác hiện gặp phải ít vấn đề ban đầu trầm trọng hơn.

Sự nhất trí ý kiến hiện tại về những triệu chứng sau viêm tủy xám tập trung vào những tế bào thần kinh và các sợi cơ tương ứng. Khi vi-rút gây bệnh viêm tủy xám phá huỷ hoặc làm tổn thương các nơron thần kinh vận động, các sợi cơ bị bỏ rơi và dẫn đến tình trạng tê liệt. Những người chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám đã lấy lại được khả năng cử động không phải vì các tế bào thần kinh đã hồi phục tới một mức độ nhất định nào đó. Giúp cho quá trình phục hồi là các tế bào thần kinh kế bên không bị ảnh hưởng đã "đâm chồi" và kết nối lại các cơ bị bỏ rơi.

Những người chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám nhiều năm với hệ thần kinh cơ được tái thiết lại này hiện đang phải gánh chịu những hậu quả – các tế bào thần kinh sống sót làm việc quá sức và các bắp cơ và khớp xương kiệt sức, cộng thêm những ảnh hưởng của quá trình già cỗi. Mặc dù quá trình tìm kiếm nguyên nhân do vi-rút gây ra vẫn tiếp diễn nhưng không có một bằng chứng tuyệt đối để ủng hộ cho khái niệm rằng hội chứng sau viêm tủy xám là một tình trạng tái nhiễm vi-rút gây bệnh viêm tủy xám.

Những người chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám chăm lo cho sức khỏe của bản thân bằng việc tìm cơ sở chăm sóc y khoa định kỳ, chọn lựa chất dinh dưỡng, tránh tăng cân quá mức và bỏ thuốc lá hoặc thú vui rượu chè quá mức.

Những người đã chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám nên lắng nghe cơ thể của mình. Tránh những hoạt động gây đau nhức – đây là một dấu hiệu cảnh báo. Tránh sử dụng không chừng mực các thuốc giảm đau, đặc biệt là giảm đau gây buồn ngủ. Không được bắt cơ làm việc quá sức nhưng cần tiếp tục những hoạt động mà không làm các triệu chứng trở nên xấu đi. Đặc biệt là không được tập thể dục quá mức hay tiếp tục tập thể dục mặc dù cảm thấy đau nhức. Tránh các hoạt động gây nên tình trạng mệt nhọc kéo dài hơn mười phút. Bảo toàn năng lượng cơ thể bằng cách tránh thực hiện những việc không cần thiết.

Về bản chất thì hội chứng sau viêm tủy xám không phải là một bệnh lý de dọa tới tính mạng nhưng nó có thể gây nên tình trạng khó chịu đáng kể và tàn tật. Tình trạng tàn tật phổ biến nhất do hội chứng sau viêm tủy xám gây nên là suy giảm khả năng cử động. Những người mắc hội chứng sau viêm tủy xám có thể cũng gặp phải những khó khăn khi thực hiện các hoạt động hàng ngày ví dụ như nấu nướng, dọn dẹp, mua sắm và lái xe. Một số người có thể phải cần đến các thiết bị hỗ trợ như gậy chống, nạng đỡ, khung tập đi, xe lăn, hoặc xe xcu-tơ điện. Nếu các triệu chứng cực kỳ trầm trọng, những người này có thể cần phải đổi nghề hoặc bỏ việc hoàn toàn.

Nhiều người bệnh gặp khó khăn khi điều chỉnh sang những tình trạng tàn tật mới. Đối với một số người mắc hội chứng sau viêm tủy xám, sống lại những trải nghiệm thời thơ ấu với căn bệnh viêm tủy xám có thể là một tổn thương và thậm trí là một trải nghiệm khủng khiếp. Thật may là hội chứng sau viêm tủy xám ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trong cộng đồng y khoa và ngày càng nhiều các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có kiến thức vững vàng về PPS để có thể đem đến sự giúp đỡ phù hợp về y khoa và thích hợp về tâm lý. Ngoài ra còn có các nhóm hỗ trợ bệnh nhân mắc hội chứng sau viêm tủy xám, các bản tin thường kỳ và những mạng lưới giáo dục cung cấp những thông tin cập nhật về hội chứng sau viêm tủy xám đồng thời cho những người mắc bệnh biết rằng trong cuộc đấu tranh phòng chống bệnh tật này, họ không chỉ có một mình.

Sources: World Health Organization Syndrome following poliomyelitis (Post-Polio Health International), Clinics Syndrome After poliomyelitis of Montreal (Montreal Neurological Hospital Post-Polio Clinic).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục