Tổn thương não (Brain Injury)


Ngày: 19 - 11 - 2012

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Bộ não là trung tâm điều khiển cho mọi chức năng của cơ thể kể cả những hoạt động có ý thức (đi và nói chuyện) và những hoạt động vô thức (hô hấp, nhịp tim, v.v.). Đồng thời bộ não cũng điều khiển suy nghĩ, nhận thức, lời nói và cảm xúc. Tình trạng tổn thương tới bộ não, dù do chấn thương đầu nghiêm trọng hay chấn thương gần đầu không để lại vết nứt hoặc xuyên thủng cũng có thể phá vỡ một số hoặc tất cả những chức năng này.

Tổn thương não có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và suốt đời đối với những chức năng của thể xác và tinh thần, bao gồm mất ý thức, trí nhớ và/hoặc tính cách thay đổi và bị liệt một phần hoặc liệt toàn thân.

Chấn thương sọ não (Traumatic brain injury - TBI) có nguyên nhân chủ yếu từ các vụ tai nạn xe gắn máy, ngã, hành động bạo lực và các chấn thương trong thể thao. Kiểu chấn thương này xảy ra ở nam giới nhiều hơn gấp hai lần so với phụ nữ. Theo ước lượng thì tỷ lệ người bị chấn thương sọ não là 100/100.000 và có 52.000 người chết mỗi năm. Độ tuổi bị tổn thương sọ não cao nhất là từ 15 đến 24 và từ 75 tuổi trở lên.

Được bao bọc trong khung xương của hộp sọ, não là một chất sệt lơ lửng trong một biển dịch não tủy. Chất dịch này đỡ bộ não và đóng vai trò như một lớp giảm sóc trong những cử động nhanh của đầu. Mặt ngoài của hộp sọ bằng phẳng, nhưng mặt trong thì lại gồ ghề – và cấu tạo này có thể gây nên tổn thương đáng kể trong những trường hợp chấn thương gần đầu vì bộ não bật lên nẩy lại vào cấu trúc nhiều xương trong hộp sọ.

Não có thể bị tổn thương do hộp sọ bị nứt hoặc đâm xuyên (ví dụ như trong trường hợp tai nạn xe cộ, rơi ngã hoặc trúng đạn), một diễn tiến bệnh tật (độc tố thần kinh, trường hợp nhiễm trùng, khối u, những bất thường trong quá trình trao đổi chất, v.v.) hoặc một chấn thương gần đầu ví dụ như trường hợp Hội chứng Trẻ Bị lắc (Shaken Baby Syndrome) hoặc đầu cử động theo chiều hướng tăng quá nhanh hoặc giảm quá nhanh.

Khi tổn thương có nguyên nhân do chấn thương thì tình trạng tổn thương tới bộ não có thể xảy ra vào thời điểm va chạm hoặc có thể diễn ra muộn hơn do bị sưng lên (phù não) và chảy máu vào não (xuất huyết trong não) hoặc máu chảy xung quanh não (xuất huyết ngoài màng cứng hoặc dưới màng cứng).

Khi đầu bị đập với một lực đủ mạnh, bộ não quay tròn và xoắn vào trục của nó (thân não), làm đứt các đường truyền thần kinh thông thường và gây nên tình trạng mất ý thức. Nếu trạng thái bất tỉnh này diễn ra trong một thời gian dài, người bị thương bị coi là đang hôn mê, một trạng thái do các sợi thần kinh chạy từ thân não tới vỏ não đã bị đứt gây nên.

Tình trạng chấn thương gần đầu thường xảy ra không để lại những biểu hiện bên ngoài rõ ràng nhưng sự khác nhau giữa những chấn thương gần đầu và chấn thương xuyên hộp sọ là rất rõ ràng. Ví dụ, nếu đầu bị một viên đạn xuyên thủng thì não có thể bị phá huỷ một vùng lớn nhưng hậu quả có thể là nhỏ vì vùng não đó không phải là vùng quan trọng.

Ngược lại, những chấn thương gần đầu thường để lại thương tổn trải rộng hơn và thiệt hại về hệ thần kinh lớn hơn, kể cả liệt một phần tới liệt hoàn toàn, sai lệch về nhận thức, hành vi và trí nhớ, tình trạng thực vật dai dẳng, và tử vong.

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại. Quá trình khôi phục lại thường tiếp tục ngay cả khi những tế bào mới không phát triển, có lẽ bởi vì những phần khác của bộ não đảm nhiệm chức năng của mô não đã bị phá hủy.

Tiến trình phục hồi bắt đầu ngay lập tức. Một khi trí nhớ bắt đầu được khôi phục lại, tỷ lệ hồi phục thường tăng lên. Tuy nhiên, nhiều vấn đề có thể vẫn diễn ra, bao gồm những vấn đề liên quan đến cử động, trí nhớ, sự chú ý, suy nghĩ phức tạp, lời nói và ngôn ngữ, và những thay đổi về hành vi.

Ngoài những hậu quả rõ ràng về thể xác do tổn thương não bộ gây nên, người chống chịu được qua tổn thương thường xuyên đối mặt với tâm lý chán nản, lo lắng, mất lòng tự trọng, tính cách thay đổi, và trong một số các trường hợp là bị mất khả năng tự nhận thức về mọi thiếu hụt hiện tại.

The sources: Resource Center on Brain Injury (Brain Injury Resource Center), the National Institute on Deafness and other Communication Disorders (National Institute on Deafness and Other Communication Disorders), the National Research Institute for System Disorders Neurology and Stroke (National Institute on Neurological Disorders and Stroke).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Xem theo danh mục