Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)


Ngày: 19 - 11 - 2012

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Những chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial Plexus Injury) xảy ra do tình trạng kéo căng, kéo mạnh quá mức hoặc chấn thương khác đối với hệ thống dây thần kinh từ cột sống tới bả vai, cánh tay và bàn tay. Các triệu chứng có thể bao gồm cánh tay bị mềm oặt hoặc bị liệt, mất khả năng điều khiển cơ ở cánh tay, bàn tay, hoặc cổ tay và thiếu cảm giác hay cảm nhận ở cánh tay hoặc bàn tay. Chấn thương thường xảy ra do các vụ tai nạn xe cộ, chấn thương trong thể thao, thương do bị trúng đạn, hoặc sau các cuộc phẫu thuật; nhiều trường hợp chấn thương thần kinh cánh tay xảy ra trong quá trình sinh nở, nếu các bả vai của trẻ bị lèn chặt trong khi sinh ra gây nên việc các dây thần kinh thần kinh cánh tay bị căng hoặc rách.

Một số trường hợp chấn thương thần kinh cánh tay có thể lành lại mà không cần điều trị. Sức khỏe của nhiều trẻ em được cải thiện hoặc hồi phục sau 3 đến 4 tháng tuổi. Phương pháp điều trị chấn thương thần kinh cánh tay bao gồm liệu pháp vận động hoặc vật lý và, trong một số trường hợp là phẫu thuật. Tùy thuộc vị trí chấn thương và kiểu chấn thương thần kinh cánh tay bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán về khả năng phục hồi. Đối với những chất thương do giật mạnh (rách) và làm đứt thì không có khả năng phục hồi trừ khi người bị thương được phẫu thuật nối lại kịp thời. Đối với những chấn thương do u dây thần kinh (có sẹo) và thần kinh thất dụng (bị kéo căng) thì có khả năng phục hồi được. Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Mối lo lắng chủ yếu đối với những người bị chấn thương thần kinh cánh tay là phải thường xuyên chịu đựng những cơn đau có thể là mạn tính và cùng cực, và nhiều loại thuốc giảm đau không có tác dụng hữu hiệu đối với những kiểu đau này.

Theo Tổ chức United Brachial Plexus Network thì những chấn thương trong sản khoa thuộc kiểu này không cần phải báo cáo tới Mạng lưới Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật; do vậy, nhiều trường hợp chấn thương đã bị chẩn đoán sai hoặc bị cho là trường hợp Liệt Erb.

Sources: Network error on Trauma Research each arm nerve (United Brachial plexus Network), to the Lit Tung Neurology arm (Brachial plexus Palsy Foundation), the National Institute of neurological Disorders andstroke (National Institute on Neurological Disorders and stroke).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Xem theo danh mục