Chăm sóc sức khỏe đại tràng (Bowel care)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Cách tốt nhất để ngăn ngừa những sự cố về đại tràng là hãy thực hiện đại tiện theo lịch. Quý vị cần phải dạy cho đại tràng biết khi nào cần phải cử động.


Đường tiêu hóa là một đường ống rỗng chạy dài từ miệng đến hậu môn. Đại tràng là đoạn cuối cùng của đường tiêu hóa có chức năng chứa các chất bã của thức ăn đã tiêu hóa cho đến khi chúng được thoát ra khỏi cơ thể dưới dạng phân.

Cử động của đại tràng diễn ra khi ruột thẳng (đoạn cuối cùng của đại tràng) bị đầy và cơ vòng hậu môn (cơ thắt hậu môn) mở ra.

Bệnh tê liệt thường làm tổn thương các dây thần kinh điều khiển đại tràng. Nếu thương tổn ở mức cao hơn T-12, người bệnh có thể bị mất khả năng cảm nhận khi ruột thẳng đầy. Tuy cơ thắt hậu môn vẫn đóng chặt nhưng những cử động của đại tràng vẫn diễn ra theo phản xạ. Điều này có nghĩa là khi ruột thẳng đầy, phản xạ đại tiện sẽ diễn ra. Trường hợp này được gọi là nơron vận động ở trên hay đại tràng phản xạ. Nó được kiểm soát bằng việc gây nên phản xạ đại tiện vào những thời điểm và địa điểm phù hợp.

Tổn thương tủy sống dưới mức T-12 có thể gây tổn hại cho khả năng phản xạ đại tiện và nới lỏng cơ thắt hậu môn. Trường hợp này được gọi là nơron vận động ở dưới hay đại tràng mềm. Việc kiểm soát kiểu đại tràng này có thể cần phải có nhiều cố gắng để phân thoát ra ngoài đại tràng và nếu cần phải sử dụng biện pháp thủ công.

Người không có khả năng kiểm soát được cơ thắt có thể cũng không có khả năng điều khiển được cử động của đại tràng. Tình trạng này có thể dẫn đến việc phân của quý vị bị nén chặt và các chất thải rắn sẽ bị giữ lại. Phân táo bón có thể gây nguy hiểm nếu nó dồn đọng nhiều trong đại tràng.

Cách tốt nhất để ngăn ngừa những sự cố về đại tràng là hãy thực hiện đại tiện theo lịch. Quý vị cần phải dạy cho đại tràng biết khi nào cần phải cử động.

Các phương pháp làm sạch đại tràng

Mỗi người nên có một chương trình đại tiện riêng, hãy xem xét kết quả chẩn đoán hoặc mức độ tổn thương thần kinh cũng như những yếu tố khác.

Phần lớn mọi người thực hiện chương trình đại tiện của họ vào một thời điểm trong ngày phù hợp với những thói quen đại tiện trước đó của họ và lối sống hiện tại. Chương trình thường bắt đầu bằng việc nhét một viên thuốc đạn hoặc một dụng cụ thụt nhỏ, chờ khoảng 15 đến 20 phút để chất kích thích làm việc. Tốt nhất nên thực hiện công đoạn này của chương trình đại tiện trên ghế chuyên dùng để đại tiểu tiện trong phòng ngủ.

Sau khoảng thời gian chờ đợi, cứ 10 đến 15 phút nên thực hiện việc kích thích bằng tay một lần cho đến khi trực tràng hết phân. Những người có đại tràng mềm thường bỏ qua công đoạn nhét thuốc đạn hoặc dụng cụ thụt nhỏ và bắt đầu chương trình đại tiện của họ bằng việc kích thích bằng tay hoặc lấy phân theo cách thủ công. Thực hiện chương trình đại tiện thường mất từ 30 đến 60 phút.

Một số thông tin về đại tràng chưa được kiểm chứng

Duy trì một sức khỏe tốt không nhất thiết phải đại tiện mỗi ngày.

Sau bữa ăn việc đại tiện thường dễ dàng hơn. 

Uống hai lít Anh chất lỏng (hoặc hai lít Anh mỗi ngày) giúp cho phân mềm; uống chất lỏng ấm trước khi đại tiện cũng sẽ giúp việc đại tiện được dễ dàng. 

Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh kể cả chất xơ dưới dạng ngũ cốc nghiền nhỏ, các loại rau củ và trái cây. Cám ngũ cốc là một trong những dạng thuốc nhuận tràng tự nhiên rẻ nhất và sẵn có nhất. 

Tham gia các hoạt động và tập thể dục cũng nâng cao sức khỏe đường ruột.

The sources:

Information Center spinal cord injury (Spinal Cord Injury Information Center), University of Washington School of Medicine, Department of Rehabilitation Medicine (Rehabilitation Medicine Department).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục