Sức khỏe sinh dục cho phụ nữ (Sexuality for Women)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Việc bôi trơn âm đạo cũng có vấn đề của nó. Một số phụ nữ SCI cho biết rằng họ bị phản ứng với chất bôi trơn còn những người khác thì lại không.


Cuộc nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng sự khác biệt chính về chức năng tình dục giữa người phụ nữ bị tàn tật và những người phụ nữ bình thường có thể được giải thích bằng những khó khăn mà người phụ nữ bị tàn tật phải trải qua khi tìm kiếm một người bạn đời lãng mạn.Mức độ ham muốn tình dục ở họ giống như những người phụ nữ bình thường nhưng mức độ hoạt động thì ít hơn bởi vì cơ hội kiếm được bạn tình ít hơn một cách đáng kể.

Nói một cách tổng quát thì sự biểu lộ nhu cầu tình dục ở phụ nữ mắc bệnh tê liệt ít bị ảnh hưởng hơn so với ở nam giới; Về mặt thể chất, phụ nữ dễ thích ứng hay xác định lại vai trò tình dục của cô ấy, mặc dù vẫn là một vai trò bị động.

Những người phụ nữ bị liệt hai chi hoặc liệt cả tứ chi và vẫn đang ở độ tuổi sinh đẻ thường lấy lại được chu kỳ kinh nguyệt; gần 50 phần trăm những người phụ nữ này không bị mất một chu kỳ kinh nguyệt nào sau khi bị chấn thương.

Việc mang thai là có thể thực hiện được, và phần lớn những người phụ nữ bị tổn thương tủy sống có thể sinh con theo cách bình thường qua đường âm đạo, mặc dù những biến chứng nhất định trong quá trình mang thai có thể xảy ra. Những biến chứng đó là đẻ non và tăng phản xạ tự phát (đối với những người có mức thương tật cao hơn T-6 có đặc trưng bởi huyết áp cao, đổ mồ hôi, ớn lạnh và đau đầu) trong quá trình chuyển dạ. Đồng thời, tình trạng mất cảm giác ở khu vực xương chậu có thể khiến cho người phụ nữ không thể biết được quá trình chuyển dạ đã bắt đầu từ khi nào.

Cũng có một số nghiên cứu đặc biệt liên quan đến việc tránh thụ thai. Biện pháp uống thuốc tránh thai gây ra hiện tượng viêm nhiễm hoặc máu bị nghẽn cục trong các mạch máu và nguy cơ này xảy ra nhiều hơn ở những người phụ nữ bị tổn thương tủy sống. Biện pháp đặt vòng có thể gây nên những biến chứng không thể phát hiện được vì người phụ nữ bị tê liệt không thể cảm nhận được những thay đổi diễn ra trong tử cung. Khó có thể sử dụng màng ngăn và thuốc diệt tinh ở những người có tay bị suy yếu vì biện pháp này cần phải có sự khéo léo.

Việc bôi trơn âm đạo cũng có vấn đề của nó. Một số phụ nữ SCI cho biết rằng họ bị phản ứng với chất bôi trơn còn những người khác thì lại không. Khi cần phải dùng đến biện pháp hỗ trợ thì nên dùng các chất bôi trơn có thể hòa tan trong nước, ví dụ như Today, Astroglide, KY Jelly. Không nên dùng Vaseline ; vì đó là chất bôi trơn có nguồn gốc từ dầu.

Những người phụ nữ mắc bệnh tê liệt có thể đạt được cực khoái nếu có một số kích thích vùng xương chậu, mặc dù đây là một điều hiếm khi xảy ra. Một số người đàn ông và phụ nữ có khả năng đạt tới một cảm giác mà người ta nói đến là cực khoái ảo "paraorgasm" hay "phantom orgasm," khi các phản xạ tình dục lan tỏa theo hướng khác tới những vùng của cơ thể không bị chấn thương. Cảm giác này mô tả như là một tình trạng cực khoái dễ chịu, mơ màng tăng lên trong ý nghĩ từ một cảm giác hiện tại. 

Sources: Center for Research on Women with Disabilities (Center for Research on Women with Disabilities), Rehabilitation Center UAB Spain / the RRTC Medical Center of complications Accessories in people with SCI (Secondary Complications in SCI), the American Veterans Be Lit (paralyzed Veterans of America), the Association of spinal cord injury (National Spinal Cord Injury Association).
 


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục