Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.


Chức năng tình dục là một mối quan ngại lớn của những người đàn ông mắc bệnh tê liệt. Họ thường tự hỏi liệu họ còn có thể “làm việc ấy” hay liệu họ có còn khoái cảm tình dục như xưa được hay không. Họ lo rằng họ không còn có cơ hội làm cha, rằng bạn bè của họ sẽ thấy họ không còn hấp dẫn, rằng người bạn đời rồi sẽ rời xa họ. Những cảm nhận đó là sự thật, sau khi bị mắc bệnh hoặc chấn thương đàn ông thường phải đối mặt với những thay đổi trong các mối quan hệ và hoạt động tình dục của họ. Tất nhiên, tinh thần của họ cũng thay đổi và những điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của người bệnh.

Điều quan trọng là phải lưu ý rằng hoạt động tình dục lành mạnh bao gồm ôm hôn nồng thắm, sự chu đáo ân cần và tình yêu thương chứ không chỉ đơn giản là giao cấu. Tuy nhiên, những vấn đề quan tâm hàng đầu sau khi bị mắc bệnh tê liệt là khả năng cương cứng và đạt khoái cảm.

Bình thường, đàn ông có hai kiểu cương cứng. Tình trạng cương cứng do yếu tố tâm lý xuất phát từ những cảnh tượng hay suy nghĩ gây ham muốn và tùy thuộc vào mức độ và phạm vi của bệnh tê liệt. Những người đàn ông bị liệt hoàn toàn thường không có khả năng cương cứng do yếu tố tâm lý. Cương cứng phản xạ diễn ra không chủ ý do việc tiếp xúc trực tiếp với dương vật hoặc những vùng nhạy cảm khác (tai, núm vú, cổ). Phần lớn những người đàn ông bị liệt đều có thể cương cứng phản xạ trừ khi các dây thần kinh ở tủy sống xương cùng (S2–S4) đã bị tổn thương.

Đạt cực khoái sau khi đã mắc bệnh tê liệt là điều có thể đạt được đối với một số người nhưng nó thường không giống với những gì mà người ta vẫn định nghĩa. Thường thì những khoái cảm này ít thiên về thể xác, ít tập trung vào các cơ quan sinh dục và trạng thái hưng phấn của tinh thần thì nhiều hơn. Điều quan trọng là phải hiểu được rằng mất cảm giác không có nghĩa là mất hết bản năng tình dục.

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp. Hiện có nhiều phương thức điều trị (như thuốc viên, thuốc dạng pellet, chích và cấy vào cơ thể) để điều trị chứng rối loạn cương dương (Erectile Dysfunction - ED). Quý vị nên tham khảo ý kiến bác sĩ của quý vị để biết được những thông tin chính xác về những phương pháp khác nhau.

Phương pháp điều trị lâm sàng được biết đến nhiều nhất để trị chứng ED là Viagra (sildenafil) giúp cải thiện chất lượng cương cứng và hoạt động tình dục ở nhiều người đàn ông bị liệt hai chi. Một số bằng chứng lâm sàng đã cho thấy rằng thuốc Viagra có tác dụng tốt đối với những người đàn ông mắc bệnh MS. Những người đàn ông mắc các vấn đề về huyết áp (cao hoặc thấp) hoặc bệnh tim mạch không nên sử dụng loại thuốc này. Một số dược phẩm khác có ý định cạnh tranh chất lượng với Viagra bao gồm Cialis và Levitra. Những loại thuốc này có thể mang lại ích lợi cho những người đàn ông mắc bệnh tê liệt nhưng hiện không có dữ liệu lâm sàng về chúng.

Một phương pháp điều trị tình trạng cương cứng khác là tiêm thuốc (papavarine hoặc alprostadil) vào thân dương vật. Phương pháp này làm cương cứng dương vật trong khoảng một tiếng đồng hồ hoặc hơn. Cảnh báo: những loại thuốc này có thể dẫn đến hội chứng cương dương kéo dài (priapism), tình trạng cương cứng trong một thời gian dài có thể làm tổn thương dương vật. Việc tiêm thuốc để làm cương dương vật cũng có thể làm thâm tím, để lại sẹo hoặc gây nhiễm trùng và có thể không phải là biện pháp tốt nhất cho những người bị hạn chế chức năng tay.

Còn một biện pháp khác là nhét thuốc vào niệu đạo. Một viên thuốc dạng tròn (có chứa alprostadil) được đặt vào niệu đạo làm các mạch máu giãn ra và bơm đầy vào khoang dương vật. Đây có thể là một biện pháp thay thế cho khoảng 30 đến 40 phần trăm những người đàn ông không có phản ứng với Viagra.

Bơm chân không là một phương pháp không xâm lấn, không sử dụng thuốc để làm dương vật cương cứng. Dương vật được đặt vào một ống nhựa; khi không khí được bơm ra, máu được kéo vào trong dương vật. Độ cứng được duy trì bằng cách quàng vào gốc dương vật một dải băng đàn hồi. Phương pháp này làm cho dương vật cương cứng nhìn có màu xanh và khi động vào thấy lạnh. Dải băng phải được tháo ra sau 30 phút để tránh làm da bị tấy lên. Các công ty chăm sóc y khoa và các công ty bảo hiểm thường thanh toán cho những thiết bị này (tuy nhiên quý vị cần phải được bác sĩ kê toa sử dụng những thiết bị này), kể cả loại thiết bị chạy bằng pin phù hợp nhất cho những người bị hạn chế chức năng tay.

Lắp bộ phận giả vào dương vật (một chiếc cần nửa cứng hoặc có thể uốn cong hay thiết bị có thể thổi phồng) là một sự lựa chọn khác, nhưng bởi vì đây là biện pháp vĩnh cửu và yêu cầu phải thực hiện phẫu thuật nên nó có mức độ rủi ro xảy ra các biến chứng cao hơn những phương pháp khác. Việc phẫu thuật có thể gây chảy máu, nhiễm trùng, hoặc phản ứng dị ứng tới tình trạng mất cảm giác. Sau khi phẫu thuật, người được cấy bộ phận giả phải thực hiện theo quy trình chăm sóc bệnh nhân ngoại trú thường lệ, cần chờ một khoảng thời gian để phục hồi là từ bốn đến tám tuần trước khi sử dụng. Bản thân thiết bị, đặc biệt là những bộ phận có thể bơm phồng phức tạp hơn, có thể trục trặc hoặc bị hư hại.

Khả năng phóng tinh và sinh sản cũng là những vấn đề lớn mà những người đàn ông mắc bệnh tê liệt đang phải đối mặt. Họ muốn biết liệu họ còn khả năng làm cha nữa hay không? Khả năng phóng tinh không phải lúc nào cũng thực hiện được nhưng có những phương pháp để lấy được tinh dịch chứa mầm sống. Máy xoa bóp là một công cụ không đắt và khá hiệu quả để kích thích phóng tinh tại nhà hoặc ở cơ sở y khoa. Nếu phương pháp máy xoa bóp không có hiệu quả thì người ra áp dụng biện pháp gây phóng tinh điện tử bằng đầu dò ruột thẳng (được thực hiện ở một phòng khám với sự hỗ trợ của một số kỹ thuật viên). Thực hiện giống theo kỹ thuật chăn nuôi, khi sử dụng biện pháp phóng tinh điện tử, người ta đặt vào ruột thẳng một đầu dò; sau đó một quá trình kích thích điện tử có giám sát được thực hiện để gây phóng tinh.

Tinh dịch được thu lại có thể được dùng trong nhiều phương pháp thụ tinh nhân tạo khác nhau, bao gồm kỹ thuật in vitro và vi thao tác. Đôi khi lượng tinh trùng thu được khỏe mạnh nhưng chúng không phải là những tay bơi cừ khôi và không đủ khỏe để xâm nhập vào trứng. Do khả năng di động của chúng bị suy giảm, tinh trùng cần phải có sự hỗ trợ của công nghệ cao. Sự phát triển gần đây của kỹ thuật tiêm thẳng tinh trùng vào trứng (ICSI), một biện pháp tiêm trực tiếp một lượng tinh trùng hoàn thiện vào một noãn bào (trứng), thường có thể gây thụ thai.

Nhiều trường hợp thụ tinh nhân tạo đã thành công nhưng khả năng sinh sản công nghệ cao, có sự hỗ trợ không phải là một sự nỗ lực và thành công. Nó có thể gây nên tình trạng mệt mỏi về tinh thần và cũng khá tốn kém. Hãy xin những thông tin thực tế và các biện pháp điều trị từ chuyên gia nghiên cứu khả năng sinh sản có kinh nghiệm về những vấn đề của tình trạng tê liệt.

Một số cặp vợ chồng khổ sở vì bị vô sinh đã được thành công trong việc sử dụng những tinh trùng được hiến tặng (lấy từ ngân hàng tinh trùng) để làm người phụ nữ có thai. Nhiều cặp vợ chồng có thể muốn xem xét nhiều phương pháp đáng làm hiện có để nhận con nuôi.

Quan hệ tình dục sau khi bị đột quỵ: Những người bị mắc bệnh tim, đột quỵ hay phẫu thuật không hẳn đã hết cơ hội có một đời sống tình dục như ý muốn. Sau khi giai đoạn phục hồi đầu tiên người ta nhận thấy rằng những cách thức làm tình giống như trước đây họ đã làm vẫn có thể thực hiện được. Có một thực tế cho rằng việc tiếp lục lại hoạt động tình dục thường gây nên hiện tượng trụy tim, đột quỵ hoặc đột tử.

Tuy nhiên, những nỗi sợ hãi về hậu quả có thể làm giảm đáng kể sự hứng thú và khả năng quan hệ tình dục. Sau khi đã hồi phục, những người trải qua cơn đột quỵ có thể cảm thấy thất vọng. Điều này là bình thường, và ở 85 phần trăm các trường hợp tình trạng này sẽ biến mất trong ba tháng.

Một điều chắc chắn rằng, người đàn ông có thể tiếp tục hoặc khởi đầu một mối quan hệ lãng mạn và thân mật với một người bạn đời sau khi bị mắc bệnh tê liệt hoặc chấn thương, nhưng điều quan trọng là phải thảo luận các vấn đề về thể chất và những cảm xúc và phải cảm thấy thỏa mái khi khám phá những phương thức mới để thể hiện ham muốn riêng tư. Hãy làm bất cứ việc gì mà quý vị cảm thấy thỏa mãn và dễ chịu là ổn miễn là cả hai người đều đồng ý.

Mặc dù đã như được đề cập đến từ trước rằng cơ quan sinh dục lớn nhất là bộ não, nhưng thật không phải lúc nào cũng dễ dàng có thể tạo nên những sự điều chỉnh lớn đối với nhân dạng tình dục của một người. Chuyên gia tư vấn có thể giúp quý vị vượt qua những cảm giác sợ hãi hoặc lo lắng đối với việc thiết lập hoặc duy trì một mối quan hệ lành mạnh sau khi bị mắc bệnh tê liệt.

Tình dục an toàn: Nguy cơ mắc phải bệnh lây lan qua đường tình dục (STD, bao gồm bệnh lậu, giang mai, mụn giộp và vi-rút HIV) sau khi bị mắc bệnh tê liệt cũng giống như trước kia. Hãy ngăn ngừa các bệnh lây lan qua đường tình dục bằng các sử dụng bao cao su có bôi gel diệt tinh trùng.

The sources:

University of Alabama / Birmingham - RRTC on Secondary pathology of spinal cord lesions (http://www.spinalcord.uab.edu), project by treatment paralysis Miami (Miami Project to Cure Paralysis), morning Support the International Treatment of MS (International MS Support Foundation).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục