Sức khỏe hô hấp (Respiratory Health)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Những người sử dụng máy thở với các ống đặt khí quản cần phải được hút các chất tiết ra khỏi phổi theo định kỳ; Việc này cần phải được thực hiện bất cứ nơi đâu theo định kỳ nửa giờ một lần tới mỗi ngày một lần.


Khi chúng ta thở, khí ô-xy trong không khí được đưa vào phổi và trực tiếp tiếp xúc với máu, được máu hấp thụ và đưa tới tất cả các bộ phận của cơ thể. Cùng lúc đó, khí các-bon điôxít do máu thải ra được đưa trở lại phổi và thoát ra ngoài không khí qua hơi thở.

Các lá phổi không bị ảnh hưởng bởi bệnh tê liệt. Tuy nhiên, các cơ ngực, cơ bụng và cơ hoành có thể bị ảnh hưởng. Khi nhiều các cơ khác nhau tham gia vào quá trình hô hấp co bóp, chúng cho phép hai lá phổi nở ra tạo nên những sự thay đổi áp lực trong lồng ngực để không khí chảy vào hai lá phổi. Đây được gọi là hít vào – cơ cần phải khỏe để thực hiện được chức năng này. Khi những cơ đó thư giãn, các luồng không khí quay trở lại hai lá phổi của quý vị và quý vị thở ra.

Nếu bị mắc bệnh tê liệt ở mức độ C-3 trở lên, dây thần kinh cơ hoành không còn được kích thích nữa và do đó cơ hoành không thực hiện chức năng của mình. Điều này có nghĩa là sẽ cần phải có sự hỗ trợ bằng máy -- thường là một máy hỗ trợ hô hấp.

Những người mắc bệnh tê liệt ở ngực mức độ nhẹ hoặc cao hơn sẽ gặp khó khăn khi hít sâu và thở mạnh. Bởi vì họ không thể sử dụng các cơ bụng hoặc cơ gian sườn nên những người này cũng mất khả năng ho mạnh. Việc này gây nên chứng nghẽn phổi và nhiễm trùng đường hô hấp.

Thêm vào đó các chất tiết giống như một chất keo hồ làm cho các bên thành của các đường hô hấp của quý vị dính vào nhau và không phồng lên như bình thường. Người ta gọi là chứng xẹp phổi, hay một tình trạng xẹp một phần phổi. Nhiều người mắc bệnh tê liệt có nguy cơ mắc chứng này. Một số người phải vất vả chống chọi những lần nhiễm lạnh hay nhiễm trùng đường hô hấp và gặp phải những cảm giác như lạnh ngực liên miên. Chứng viêm phổi cũng có thể xảy ra nếu các chất tiết trở thành mồng mấm phát sinh cho nhiều loại vi khuẩn khác nhau.

Một kỹ thuật hữu ích làm giảm nguy cơ này là ho có hỗ trợ: người hỗ trợ dùng lực nhấn vào bên ngoài bụng và đẩy lên trên, thay cho hoạt động của cơ bụng để tạo ra một cơn ho mạnh. Phương pháp này nhẹ nhàng hơn nhiều so với phương pháp Heimlich maneuver và điều quan trọng là phải phối hợp các lần nhấn theo nhịp hô hấp tự nhiên.

Một kỹ thuật khác là gõ bụng (percussion): Về căn bản đây chỉ là một phương pháp gõ nhẹ lên khung xương của cơ thể để làm long đờm trong hai lá phổi.

Dẫn lưu tư thế (Postural drainage): Kỹ thuật này dùng trọng lực để dẫn lưu các chất tiết từ đáy hai lá phổi lên phần cao trong ngực của quý vị để quý vị có thể ho và khạc ra, hoặc đưa lên một độ cao đủ để quý vị nuốt vào. Khi thực hiện kỹ thuật này người bệnh nằm ngang đầu để thấp hơn chân trong khoảng 15 đến 20 phút.

Những người sử dụng máy thở với các ống đặt khí quản cần phải được hút các chất tiết ra khỏi phổi theo định kỳ; Việc này cần phải được thực hiện bất cứ nơi đâu theo định kỳ nửa giờ một lần tới mỗi ngày một lần.

Các máy thở

Có hai loại thở bằng máy căn bản. Thở bằng máy tạo áp lực âm, ví dụ như phổi nhân tạo, tạo ra một khoảng chân không bao quanh phía ngoài của ngực, làm cho ngực nở ra và hút không khí vào phổi. Thở bằng máy tạo áp lực dương là phương pháp được áp dụng từ những năm 1940 hoạt động với nguyên tắc ngược lại với thở máy áp lực âm bằng cách thổi không khí trực tiếp vào phổi.

Người ta cũng có thể sử dụng một chiếc mặt nạ nhỏ phủ lên mũi và/hoặc miệng để thực hiện thông khí nhân tạo với áp lực dương. Đối với những bệnh nhân chỉ cần trợ thở trong một khoảng thời gian, người ta sử dụng các phương pháp trợ thở không xâm lấn để tránh những biến chứng liên quan đến thủ thuật mở khí quản.

Một kỹ thuật trợ thở khác là cấy một thiết bị điện tử vào khoang ngực để kích thích dây thần kinh cơ hoành đồng thời gửi một tín hiệu thường xuyên tới cơ hoành để bắt cơ hoành phải co bóp để đưa không khí vào phổi. Các máy điều hòa nhịp dây thần kinh cơ hoành đã xuất hiện vào cuối những năm 1950 nhưng đắt và không được sử dụng rộng rãi.

Chăm sóc các đường thông khí quản

Có nhiều biến chứng có thể xảy ra liên quan đến các ống đặt khí quản, bao gồm tình trạng không có khả năng nói hoặc nuốt bình thường. Các ống đặt khí quản đặc biệt được thiết kế để dẫn hướng không khí lên trên trong quá trình thở ra và do đó cho phép nói trong các quãng đều đặn, định kỳ.

Một biến chứng khác liên quan đến đường thông khí quản là nhiễm trùng. Ống đặt là một vật lạ trong cổ và có nguy cơ đưa các sinh thể vào mũi và miệng mà cơ chế phòng vệ tự nhiên những sinh thể đó sẽ bị chặn lại. Việc vệ sinh và bao phủ vị trí thông khí quản định kỳ hàng ngày là một biện pháp phòng ngừa quan trọng.

The sources:

Craig Hospital, University of Miami School of Medicine, University of Washington School of Medicine / Faculty of Rehabilitation Medicine.


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục