Liệt cứng (Spasticity)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.


Tổng quan

Liệt cứng là một phản ứng phụ của chứng liệt thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau, từ tê cứng nhẹ tới mức nghiêm trọng như không thể điều kiển được chân. Các triệu chứng có thể bao gồm tăng trương lực cơ, cơ co bóp nhanh, phản xạ gân sâu tăng vượt mức, co cơ, chân lưỡi kéo (hiện tượng hai chân bắt chéo ngoài chủ định) và các khớp bị cố định.

Liệt cứng thông thường xảy do tổn thương tại phần của não bộ hoặc tủy sống có chức năng điều khiển chuyển động theo chủ ý. Hiện tượng này có thể xảy ra cùng với tổn thương tủy sống, bệnh đa xơ cứng, bại não, tổn thương não do thiếu ô-xy, chấn thương não, chấn thương nghiêm trọng vùng đầu hoặc những bệnh chuyển hóa nhất định. Liệt cứng có thể ảnh hưởng tới quá trình phục hồi chức năng hoặc các hoạt động sống hàng ngày.

Khi một người lần đầu tiên bị chấn thương, cơ bắp của họ yếu và dẻo do một hiện tượng mang tên sốc tủy sống: cơ thể không có phản xạ ở dưới mức chấn thương; hiện tượng này thường kéo dài vài tuần hoặc vài tháng. Khi kết thúc thời gian sốc tủy sống, hoạt động phản xạ sẽ trở lại.

Do dòng luân chuyển thông thường của các tín hiệu thần kinh dưới mức chấn thương bị ngắt quãng, nên những tín hiệu này có thể không tới được trung tâm phản xạ của não bộ. Sau đó, tủy sống cố gắng điều tiết phản ứng của cơ thể. Do tủy sống không thực hiện đầy đủ chức năng như não bộ nên các tín hiệu được gửi lại vùng cảm giác thường tăng quá mức. Đó là một phản xạ quá mức được bác sĩ gọi là ưu trương liệt cứng: cử động "giật đột ngột" không kiểm soát được, cơ liệt cứng hoặc duỗi thẳng, những co bóp như bị sốc của một cơ hoặc một nhóm cơ và trương lực bất thường của cơ.

Phần lớn mọi người bị tổn thương tủy sống (SCI) đều trải qua ưu trương liệt cứng theo một biểu hiện nào đó. Những người bị chấn thương cổ và những người bị chất thương không hoàn toàn có khả năng trải qua ưu trương liệt cứng cao hơn những người bị liệt hai chân và/hoặc chấn thương toàn bộ. Những cơ thường bị liệt cứng nhất là phần cơ uốn khuỷu tay (cơ gấp) hoặc mở rộng chân (cơ duỗi). Hiện tượng này thường xảy ra do một phản ứng tự động đối với cảm giác đau.

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Liệt cứng không hẳn đã là một điều xấu. Một số người tận dụng việc co thắt có chủ đích, để làm sạch bàng quang, để chuyển động, để mặc quần áo. Những người khác thì tận dụng để giữ trương lực cơ bắp và tăng cường tuần hoàn. Hiện tượng này có thể giúp duy trì sức mạnh của xương.

Thay đổi liệt cứng

Theo các nhà nghiên cứu ở Bệnh viện Craig ở Denver, bản thân một thay đổi trong hiện tượng liệt cứng của một người có thể là một triệu chứng. Ví dụ, một u nang hoặc khoang trong tủy sống (đôi khi được gọi là bệnh rỗng tủy sống hậu chấn thương) có thể khiến liệt cứng nhiều hơn. Tương tự, giảm liệt cứng hoặc không liệt cứng nữa cũng có thể là dấu hiệu có u nang.

Những bệnh khác có thể phát triển trong tủy sống như u, hội chứng Guillain-Barre, viêm tủy ngang, tai biến tủy sống, v.v..., cũng có thể khiến thay đổi hiện tượng liệt cứng. Và những vấn đề bên ngoài hệ thần kinh như viêm nhiễm bàng quang hoặc đau da cũng có thể khiến liệt cứng tăng lên.

Điều trị liệt cứng có thể bao gồm nhiều loại thuốc như baclofen, diazepam hoặc zanaflex. Một số người bị co thắt nghiêm trọng sử dụng biện pháp bơm baclofen, đó là những ổ chứa nhỏ được phẫu thuật cấy ghép để đưa thuốc trực tiếp vào khu vực rối loạn chức năng tủy sống. Điều này cho phép thuốc tập trung với mật độ cao hơn mà không bị những tác dụng phụ gây mệt mỏi khi dùng thuốc liều cao qua đường uống.

Trong những năm gần đây, các bác sĩ đã điều trị hiện tượng liệt cứng ở trẻ em bằng botox, một chất gây giãn cơ được sử dụng trong ngành thẩm mỹ để xử lý các nếp nhăn.

Liệu pháp vật lý, bao gồm dãn cơ, các bài tập vận động và những liệu pháp vật lý khác có thể giúp ngăn ngừa liệt cứng khớp (cơ bị co hoặc rút ngắn lại) và giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.

Đôi khi, phẫu thuật là một giải pháp khuyên dùng để giãn gân hoặc để chia tách đường truyền thần kinh-cơ bắp của trẻ em bị bại não. Cắt rễ dây thần kinh tủy sống lưng chọn lọc có thể sẽ được cân nhắc nếu liệt cứng ảnh hưởng tới hoạt động ngồi, tắm hoặc chăm sóc nói chung.

Liệt cứng xảy ra đối với phần chi của nhiều người bị liệt. Chiến lược điều trị nên dựa trên hoạt động chức năng của quý vị: liệu liệt cứng có khiến quý vị không làm được những việc nhất định nào đó không? Liệu có những rủi ro về an toàn không - mất kiểm soát trong khi điều khiển xe lăn điện hoặc ô-tô? Những thuốc chống liệt cứng có tác dụng tồi tệ hơn cả triệu chứng đó, ảnh hưởng tới mức độ tập trung và/hoặc năng lượng không? Liệt cứng có trở thành vấn đề vượt khả năng giải quyết của người chăm sóc không? Nếu câu trả lời cho bất cứ câu hỏi nào trên đây là có thì hãy kiểm tra cùng bác sĩ của quý vị để thảo luận về lựa chọn dành cho quý vị.

The sources:

National Multiple Sclerosis Society (National Multiple Sclerosis Society), Networking Association cerebral palsy (United Cerebral Palsy Associations), the Center for National Statistics spinal cord injury (National Spinal Cord Injury Statistical Center), Craig Hospital, University of Alabama at Birmingham / Rehabilitation Centers Spanish (Spain Rehabilitation Center).


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục