Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Ngày: 19 - 11 - 2012

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.


Tăng Phản xạ Tự phát (Autonomic dysreflexia - (AD) là một bệnh lý có khả năng đe dọa tới tính mạng, có thể coi là một tình trạng cấp cứu y khoa. Bệnh gây ảnh hưởng chủ yếu đến những người có mức thương tổn từ T-5 trở lên.

Đối với bệnh tăng phản xạ tự phát thì cần phải có hành động nhanh và chính xác. Bệnh tăng phản xạ tự phát có thể gây ra đột quỵ. Do nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe không thông thạo với bệnh lý này nên điều quan trọng là những người có nguy cơ mắc bệnh tăng phản xạ tự phát và những người sống gần với họ phải tìm hiểu về căn bệnh đó.

Cần làm gì?

Việc đầu tiên phải làm khi nghi ngờ có hiện tượng tăng phản xạ tự phát là phải ngồi dậy hoặc nâng cao đầu tới 90 độ. Nếu quý vị có thể hạ thấp hai chân thì hãy hạ xuống. Tiếp theo là nới lỏng hoặc tháo bỏ bất cứ thứ gì bó sát. Điều quan trọng nhất là quý vị phải xác định được và loại bỏ những thứ đang gây khó chịu cho quý vị, nếu có thể.

Những biểu hiện của bệnh tăng phản xạ tự phát bao gồm

Huyết áp cao (lớn hơn 200/100).

Đau đầu như búa bổ, mặt đỏ bừng.

Đổ mồ hôi nhiều hơn mức độ của bệnh lý tổn thương cột sống.

Nghẹt mũi, buồn nôn.

Mạch chậm, ít hơn 60 nhịp một phút.

Sởn gai ốc thấp hơn mức độ của bệnh lý tổn thương cột sống.

Nguyên nhân gây nên bệnh tăng phản xạ tự phát

Là do một sự kích thích thấp hơn mức độ thương tổn, thường liên quan tới chức năng của bàng quang và đại tràng. Trong số đó có những nguyên nhân sau:

Tức bàng quang, nhiễm trùng đường tiết niệu.

Ống thông đường tiểu bị tắc.

Túi đựng nước tiểu đầy tràn.

Đại tràng sưng phồng hoặc co thắt.

Táo bón/phân đóng chặt.

Trĩ hoặc nhiễm trùng hậu môn.

Da bị nhiễm trùng hoặc sưng tấy, các vết đứt, vết thâm, vết trầy.

Những điểm loét do áp lực tỳ (loét do tư thế nằm).

Móng mọc vào da.

Các vết bỏng (kể cả do cháy nắng, bỏng do nước nóng).

Quần áo chật hoặc hạn chế cử động.

Hoạt động tình dục.

Thống kinh.

Chuyển dạ và sinh con.

Những bệnh lý ở phần bụng (loét dạ dày, viêm ruột kết, viêm màng bụng).

Gãy xương.

Bệnh có thể ngăn ngừa được

Thường xuyên làm nhẹ áp lực khi ngồi, nằm trên giường/ghế.

Sử dụng kem chống nắng số 15, cẩn thận với nhiệt độ nước.

Nghiêm túc thực hiện theo chương trình tiêu hóa.

Giữ cho các ống thông tiểu sạch sẽ và thực hiện lịch biểu thông tiểu một cách chính xác.

Những gì diễn ra khi tăng phản xạ tự phát xảy ra?

Tăng phản xạ tự phát có nghĩa là một hoạt động quá mức của hệ thần kinh tự trị – một phần của hệ thống điều khiển những việc mà quý vị không phải bận tâm đến, ví dụ như nhịp tim, hô hấp, tiêu hóa, v.v. Tăng phản xạ tự phát có thể xảy ra khi cơ thể tiếp nhận một sự kích thích dưới mức tổn thương. Tình trạng kích thích gửi những xung nhịp thần kinh tới tủy sống, ở đó xung nhịp lan truyền tăng lên cho đến khi những xung nhịp bị chặn lại ở mức tổn thương.

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị. Việc này gây nên các cơn co thắt và tình trạng hẹp các mạch máu làm tăng tăng huyết áp. Các điểm tiếp nhận thần kinh trong tim và mạch máu dò tìm thấy huyết áp tăng và gửi một tín hiệu tới bộ não.

Sau đó bộ não gửi tín hiệu đến, bộ não không thể gửi những tín hiệu dưới mức tổn thương do tình trạng thương tổn của tủy sống nên huyết áp không được điều chỉnh.

Thường thì người ta sử dụng thuốc để điều trị khi không thể xác nhận và loại bỏ tác nhân gây nên tình trạng khó chịu/kích tim, làm cho nhịp tim đập chậm lại và các mạch máu đang ở trên mức tổn thương giãn ra. Tuy nhiên thích - hoặc khi tình trạng kích thích vẫn diễn ra sau khi đã loại bỏ nguyên nhân nghi ngờ. Những tác nhân có lợi có thể gây nên kích thích bao gồm: Nitroglycerine, Clonidine, Hydralazine, Minipress, Catapres.

Sources: The American Veterans Be Lit (paralyzed Veterans of America), Spine Injury Association (Spinal Injuries Association), London, the Association of spinal cord injury (National Spinal Cord Injury Association), Project by from paralysis Miami / University of Miami School of Medicine.


Bài xem nhiều nhất

JNC 8 Hướng dẫn về tăng huyết áp

Điều trị lần đầu với dòng đầu tiên nên được giới hạn đến 4 loại thuốc: thiazide - loại thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi (CCB), thuốc ức chế men chuyển, và ARB.

JNC 7 Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (Mục tiêu và khuyến nghị)

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp (JNC 7) đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Xét nghiệm chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu.

Các triệu chứng và xét nghiệm bệnh gan

Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) đo lường mức độ của các enzym được tìm thấy trong gan (protein cần thiết để thực hiện các chức năng của gan).

Bệnh lý gan mật, viêm, xơ, ung thư, nhiễm đồng sắt, di truyền

Xơ gan có nhiều nguyên nhân nhưng thường là do nhiễm bệnh viêm gan hoặc uống rượu quá mức. Các tế bào gan đang dần dần thay thế bằng mô sẹo, nghiêm trọng làm suy yếu chức năng gan.

Chăm sóc da tránh loét (Skin care)

Có thể người bệnh phải nhập viện vài tuần hoặc nằm nghỉ lâu trên giường để chỗ loét lành lại. Với những điểm loét tỳ phức tạp, có thể người bệnh phải trải qua phẫu thuật hoặc ghép da.

Bệnh xơ cứng teo cơ cột bên (ALS, Amyotrophic lateral sclerosis)

Cho đến thời điểm này, các nhà khoa học vẫn đang làm việc với các yếu tố và những phương thức mới để đưa ra được các liệu pháp điều trị.

Liệt cứng (Spasticity)

Liệt cứng cũng gây ra một trạng thái trong đó các cơ nhất định co thắt liên tục. Tình trạng cơ cứng hoặc căng cơ này ảnh hưởng tới dáng đi, chuyển động và lời nói.

Bệnh rỗng tủy sống, Cứng cột sống (Syringomyelia, Tethered Cord)

Tạo ảnh cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging - MRI) có thể dễ dàng phát hiện ra các u nang trong tủy sống, trừ khi tại đó có các thanh chốt, miếng mỏng hoặc các mảnh đạn.

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Bệnh gan theo nguyên nhân

Những người bị nhiễm viêm gan C thường không có triệu chứng, nhưng ảnh hưởng lâu dài có thể bao gồm tổn thương gan và ung thư. Vi rút được truyền qua máu bị nhiễm theo những cách tương tự như viêm gan B.

Tăng trưởng bình thường của trẻ nhỏ

 Hãy nhớ rằng đây là những hướng dẫn chung. Trẻ có thể phát triển nhiều hơn một chút hoặc ít hơn một chút mỗi năm.

Bệnh loạn dưỡng cơ (Muscular dystrophy)

Loạn dưỡng cơ thể mặt-vai-cánh tay xuất hiện ở thanh thiếu niên và gây nên tình trạng suy yếu diễn tiến ở các cơ mặt và một số cơ ở hai tay cánh tay và hai chân.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Tổn thương não (Brain Injury)

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Chấn thương thần kinh cánh tay (Brachial plexus Injury)

Phần lớn các bệnh nhân bị chấn thương kiểu thần kinh thất dụng phục hồi được 90 đến 100 phần trăm chức năng theo cách tự nhiên.

Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

Hai loại khác của nứt đốt sống là thoát vị màng não và thoát vị tủy-màng tủy được hiểu chung là nứt đốt sống hiện và cứ khoảng 1000 đứa trẻ ra đời thì có một bé mắc khuyết tật này.

Nhiễm cúm A (H7N9) ở người

Như vậy đến nay, hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm virus này đã phát triển viêm phổi nặng. Các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở. Thông tin vẫn còn hạn chế về toàn bộ về bệnh nhiễm virus cúm A (H7N9) có thể gây ra.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang nơi được các tín hiệu từ những đoạn dưới của tủy sống điều khiển.

Đột quỵ (Stroke)

Đột quỵ vẫn thường được xem là không thể phòng ngừa và điều trị. Cùng với tiền định này là một nhận thức sai lầm khi cho rằng đột quỵ chỉ xảy ra đối với người cao tuổi và do đó không phải là một điều đáng quan tâm.

Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)

Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị.

Kiểm soát bàng quang (Bladder management)

Bàng quang co cứng (phản xạ) là khi bàng quang của quý vị chứa đầy nước tiểu và khả năng phản xạ tự động kích hoạt bàng quang để thoát nước tiểu.

Sức khỏe tình dục của nam giới (Sexuality for Men)

Trong khi nhiều người đàn ông mắc bệnh tê liệt vẫn có thể “làm cứng” nhưng trạng thái cương cứng có thể không đủ độ hoặc không đủ lâu để giao hợp.

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Đau (Pain)

Liệu pháp nhận thức-hành vi liên quan tới hàng loạt những kỹ năng đối phó đa dạng và các phương pháp thư giãn nhằm giúp người bệnh chuẩn bị tinh thần và đối phó với cơn đau.

Xem theo danh mục