Hội chứng trung thất


Ngày: 27 - 10 - 2011

Khi có sự chèn ép các thành phần của trung thất, trên lâm sàng có thể thấy hội chứng trung thất.

Đại cương

Định nghĩa

Khi có sự chèn ép các thành phần của trung thất, trên lâm sàng có thể thấy hội chứng trung thất.

Nhắc lại về giải phẫu

Vị trí và giới hạn: Trung thất ở trung tâm lồng ngực, giới hạn phía trước bởi xương ức, phía sau là cột sống, hai bên là phổi và màng phổi, phía trên thông với các tổ chức đệm ở cổ, dưới cơ hoành.

Phân chia: Tim và các mạch máu lớn chia trung thất ra làm hai phần trước và sau:

Trung thất trước gồm:

Tuyến hung ở trẻ em.

Ngã ba khí phế quản và nhóm hạch bạch huyết bao quanh khí phế quản.

Tim.

Động mạch chủ và động mạch phổi, các tĩnh mạch chủ và tĩnh mạch phổi.

Giữa động mạch phổi và phần lên của động mạch chủ là dây thần kinh  quặt ngược.

Trung thất sau gồm:

Thực quản và nhóm hạch bạch huyết bao quanh thực quản.

Tĩnh mạch đơn (azygos).

Ống ngực.

Đoạn xuống của động mạch chủ.

Các dây thần kinh giao cảm và phế vị.

Tuỳ theo vị trí chèn ép của một hay nhiều thành phần của trung thất trước hoặc trung thất sau, ta thấy những biểu hiện lâm sàng khác.

Triệu chứng lâm sàng

Hội chứng trung thất gồm có bốn triệu chứng:

Triệu chứng chèn ép khí phế quản.

Triệu chứng chén ép các mạch máu.

Triệu chứng chèn ép thực quản.

Triệu chứng chèn ép dây thần kinh.

Tuy vậy, ít khi có đủ bốn loại triệu chứng cùng một lúc ở một người bệnh có khi có những khối u rất to mà chỉ xô đẩy các thành phần của trung thất chứ không gây ra một sự chèn ép nào.

Triệu chứng chèn ép khí phế quản

Có ba triệu chứng chính:

Khó thở: Thường là khó thở  vào, có thể kèm theo tiếng thở rít và rút lõm trên,   ưới ức. Hay xảy ra ở một vài tư thế, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng.

Ho: Ho khan, ho từng cơn và oang oang, nghe như rống lên. Có khi ho ra máu.

Đau ngực: Tính chất của đau ngực they đổi tuỳ theo địa điểm của chèn ép.

Có khi đau ở một chỗ cố định.

Có khi đau dọc theo xương sườn, kiểu đau dây thần kinh liên sườn.

Có thể đau lan lên cổ  và hai tay.

Triệu chứng chèn ép các mạch máu

Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên.

Sự chèn ép tĩnh mạch chủ trên, gây ứ máu ở não, người bệnh thường bị:

Nhức đầu, khó ngủ làm việc trí óc chóng mệt.

Tím mặt: Mới đầu chỉ có thể có ở môi, má,tai, tăng lên khi ho và gắng sức. Sau cùng, cả nửa người  trở nên tím ngắt hoặc đỏ tía.

Phù: Phù ở mặt, cổ, lồng ngực, lưng có khi cả hai tay, cổ thường to hạch, làm cho người bệnh không cài được khuy cổ (phù kiểu áo choàng).

Tĩnh mạch nổi to: Tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch dưới lưỡi nổi to lên. Tĩnh mạch bàng hệ phát triển, các lưới tĩnh mạch  nhỏ ở dưới da bình thường không nhìn thấy hoặc không có, bây giờ nở to ra, ngoằn ngoèo, đỏ hay tím.

Áp lực tĩnh mạch tăng ở chi trên tới 18-20cm nước, còn ở chi dưới bình thường.

Tuỳ theo vị trí tắc, phù và tuần hoàn bàng hệ  có thể có mức độ  và hình thái khác nhau. Có thể thấy:

Tắc ở trên chỗ nào của tĩnh mạch đơn: Ứ trệ ở phần trên lồng ngực cổ gáy. Máu tĩnh mạch ở vùng  đó trở về tĩnh mạch chủ qua tĩnh mạch vú trong tĩnh mạch sống, đổ vào tĩnh mạch đơn qua các tĩnh mạch liên sườn trên.

Tắc ở dưới chỗ vào của mạch tĩnh mạch đơn: Chèn ép hoàn toàn tĩnh mạch chủ dưới, làm máu tĩnh mạch bị ứ trệ, dồn ngược dòng tĩnh mạch đơn lớn vào các  nhánh nối tĩnh mạch ngực bụng sâu, đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Khám có thể thấy tĩnh mạch bàng hệ nổi lên ở nền lồng ngực.

Tắc ở ngay chỗ vào của tĩnh mạch đơn và tĩnh mạch chủ: Ứ trệ tuần hoàn rất nhiều. Tĩnh mạch bàng hệ nổi rõ ở tất cả lồng ngực và phần trên của bụng.

Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ dưới: Tắc ở gần chỗ vào của tĩnh mạch chủ   ưới gây tuần hoàn bàng hệ  nhiều ở bụng và nền lồng ngực. Có thể thấy gan to, phù chi dưới, áp lực tĩnh mạch chi dưới tăng cao.

Triệu chứng chèn ép động mạch dưới đòn. Biên độ mạch không đều ở hai ta. Huyết áp động mạch cũng không đều ở hai bên cánh tay.

Triệu chứng chèn ép động mạch phổi: Khó thở khi gắng sức. Nghe tim có tiếng thổi tâm thu ở liên sườn hai trái. Soi phổi, thấy nhu mô phổi rất trong, các nhánh động mạch phổi không nhìn rõ. Thường là do túi phồng động mạch chủ đè vào động mạch phổi.

Triệu chứng chèn ép thực quản

Khó nuốt hoặc nuốt đau.

Đau ngực phía sau lưng, lan sang  bên hoặc lên trên.

Triệu chứng chèn ép thần kinh

Chèn ép dây quặt ngược: nói khàn, có khi mất giọng, hoặc giọng đôi.

Chèn ép dây giao cảm cổ: bên tổn thương, đồng tử co lại, kẽ mắt nhỏ lại, mắt lõm sâu là mi mắt sưng sụp xuống, gò má đỏ (hội chứng Claude Bernard-Horner).

Đau dây thần kinh liên sườn.

Đau dây thần kinh hoành: Nấc đau vùng cơ hoành, khó thở do liệt cơ hoành.

Đứng trước các triệu chứng lâm sàng trên, cần phải soi, chụp x quang lồng ngực.

X quang

Có thể nhìn thấy hình mờ ở một hoặc hai bên trung thất. Hình ảnh x quang không cho phép ta quyết định chẩn đoán nguyên nhân của chèn ép trung thất nhưng trong một số trường hợp, hình ảnh đó có thể  làm ta hướng đến một số nguyên nhân.

Ung thư hạch bạch huyết: Hình mờ hai bên trung thất, bờ rõ từ cuống tim lên đến đỉnh phổi.

Di căn ung thư (gan, dạ dày, phổi): Hình mờ một bên trung thất có thể thấy nhiều khối mờ tròn ở phổi.

Bệnh Hodgkin: Hình mờ hai bên trung thất thấy bờ rõ rệt  hình vòng cung. Ngoài ra ta còn có thể thấy các triệu chứng khác của bệnh, hạch to ở cổ, nách, thượng đòn, bẹn. Sinh thiết có nhiều tế bào Sternberg.

Bệnh bạch cầu mạn tính: Hình mờ hai bên trung thất cân xứng. Ngoài ra còn có nhiều hạch bạch huyết nổi to nơi khác, xét nghiệm máu thấy bạch cầu tăng lên rất nhiều.

Viêm trung thất hoá mủ: Ít gặp nhưng cũng cần phải chú ý. Nguyên do thông  thường nhất là viêm thực quản lan sang trung thất. Viêm thực quản thường xảy ra sau khi người

Bệnh bị hóc xương. X quang thấy hai dải mờ hai bên trung thất, ngoài ra có bệnh cảnh nhiễm khuẩn nặng.

Phân loại

Tuỳ theo vị trí chèn ép của trung thất, có thể chia ra các loại hội chứng sau đây:

Hội chứng trung thất trên: Ứ huyết tĩnh mạch chủ trên, phù tim ngực cổ.

Hội chứng trung thất dưới: Ứ huyết tĩnh mạch chủ dưới, phù chi dưới, gan to tĩnh tĩnh mạch bàng hệ ở ngực, bụng.

Hội chứng trung thất sau: Khó nuốt, đau rễ thần kinh  kiểu đau dây thần kinh liên sườn. Có thể tràn dưỡng chấp ổ màng phổi.

Hội chứng trung thất giữa: Khó thở, nói khàn hoặc giọng đôi do  liệt dây thần kinh thanh quản trái.

Hội chứng trung thất trước: Đau ngực nhiều, kiểu đau thắt động mạch vành. Trên thực tế, các hội chứng đó có thể đứng riêng lẽ hoặc phối hợp.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chèn ép trung thất có thể là:

U ác tính: Ung thư  phế quản (thường gặp nhất), ung thư hạch bạch huyết,  bệnh bạch cầu.

U lành tính: Ít gặp.

Viêm trung thất có mủ.

Lao: Có hạch to và viêm trung thất.

Bướu chìm của tuyến giáp trạng.

Bướu tuyến hung.

Phình quai động mạch chủ.

Thành viên Dieutri.vn


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn tiểu tiện, đái buốt, đái rắt, bí đái

Khi bàng quang có tổn thương, nhất là vùng cổ bàng quang dễ bị kích thích, khối lượng nước tiểu rất ít cũng đủ gây phản xạ đó. Hậu quả là làm cho người bệnh phải đi đái luôn và đái buốt.

Hội chứng thiếu máu

Thiếu máu xẩy ra khi mức độ huyết sắc tố lưu hành của một người nào đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh cùng giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống.

Hội chứng rối loạn tiêu hoá

Đau bụng là triệu chứng cơ năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hoá và các tạng trong ổ bụng. Dấu hiệu đau có tính chất gợi ý đầu tiên khiến người thầy thuốc có hướng hỏi bệnh, thăm khám bệnh để chẩn đoán nguyên nhân gây đau bụng là gì.

Hội chứng xuất huyết

Xuất huyết là một hội chứng bệnh lý gặp ở nhiều chuyên khoa như: Xuất huyết dưới da hay gặp ở nội khoa, truyền nhiễm; xuất huyết dạ dày gặp ở khoa tiêu hoá; rong kinh.

Khám thắt lưng hông

Hội chứng thắt lưng - hông gồm có hai hội chứng thành phần là hội chứng cột sống và hội chứng dây rễ thần kinh. Khám lâm sàng hội chứng thắt lưng-hông nhằm mục đích phát hiện các triệu chứng của các hội chứng trên.

Hội chứng đau thắt lưng

Đau có thể khu trú ở thắt lưng hay lan dọc theo cột sống, hoặc lan xuống một hoặc hai chân. Đau có thể tăng lên do động tác như: Cúi, nghiêng, hoặc nâng vác, giảm đau khi nghỉ hoặc đau liên tục không liên quan đến động tác vận động của cột sống.

Khám hội chứng màng não

Khi màng não bị tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau, trên lâm sàng sẽ thấy biểu hiện của hội chứng màng não (meningismus).

Hội chứng tràn dịch màng phổi

Ổ màng phổi là một khoảng ảo. Bình thường trong ổ màng phổi có rất ít thanh dịch, đủ cho lá thanh và lá tạng trượt lên nhau được dễ dàng trong động tác hô hấp.

Chẩn đoán hạch to

Chẩn đoán nguyên nhân hạch to thường dễ, nếu chỉ là một triệu chứng nằm trong một bệnh cảnh có nhiều hội chứng cấp tính hơn. Nhưng nếu hạch to là một triệu chứng duy nhất hoặc nổi bật thì chẩn đoán thường khó khăn.

Khám và chẩn đoán phù

Phù là hiện tượng ứ nước ở trong các tổ chức dưới da hoặc phủ tạng. Sự ứ nước đó có thể gây bởi nhiều cơ chế, cho nên phù là triệu chứng của rất nhiều bệnh, nhiều khi dễ, chẩn đoán được ngay, nhưng cũng có khi rất khó.

Hội chứng suy tim

Tim có hai buồng (tim phải và tim trái) có nhiệm vụ khác nhau nên người ta chia ra suy tim phải và suy tim trái.

Xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hoá là hiện tượng máu thoát ra khỏi lòng mạch chảy vào ống tiêu hoá, biểu hiện lâm sàng là nôn ra máu đi ngoài ra máu.

Hội chứng liệt nửa người

Theo Dèjerine, liệt nửa người là liệt tay chân cùng một bên của cơ thể do tổn thương từ các tế bào tháp đến xináp của chúng với tế bào sừng trước tủy sống.

Rối loạn chuyển hóa nước, điện giải

Trong cơ thể, các chất điện giải có một vai trò vô cùng quan trọng : duy trì áp lực thẩm thấu, cân bằng axit-bazơ, chi phối tính chịu kích thích thần kinh - cơ,vv...

Triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp

Nhồi máu cơ tim (NMCT) là một thể bệnh nặng của BTTMCB (bệnh tim thiếu máu cục bộ), với bản chất là đã có biến đổi thực thể - hoại tử một vùng cơ tim.

Xem theo danh mục