Khám dinh dưỡng và cơ tròn


Ngày: 15 - 10 - 2011

Các bệnh về thần kinh có thể gây rất nhiều rối loạn dinh dưỡng khác nhau: Ở da, xương, khớp, cơ. Trong nhiều trường hợp các rối loạn đó có giá trị chẩn đoán quyết định và xuất hiện rất sớm trước các triệu chứng khác.

Rối loạn dinh dưỡng

Các bệnh về thần kinh có thể gây rất nhiều rối loạn dinh dưỡng khác nhau: Ở da, xương, khớp, cơ. Trong nhiều trường hợp các rối loạn đó có giá trị chẩn đoán quyết định và xuất hiện rất sớm trước các triệu chứng khác.

Quan trọng nhất là rối loạn dinh dưỡng ở cơ, vì hay gặp và khó chẩn đoán nguyên nhân, nếu không biết cách khám xét.

Rối loạn dinh dưỡng ở cơ: Teo cơ

Cách khám:

Đối với mọi trường  hợp teo cơ, khi khám cần chú ý:

Cách xuất hiện (đột  ngột, hoặc sau một tổn thương viêm).

Tiến triển nhanh hay chậm.

Mức độ teo đo bằng thước dây vòng quanh chi (để tiện theo dõi và đánh giá kết quả điều trị).

Khu trú của teo cơ (bàn, ngón, vai, thắt lưng).

Tính chất đối xứng hai bên với nhau.

Tìm xem có co giật cơ hay không.

Cuối cùng phải khám thần kinh toàn bộ, đặc biệt chú ý đến:

Phản xạ gân xương, phản xạ của cơ (gõ vào thân cơ) cảm giác.

Phản ứng thoái hoá điện, nếu có phương tiện.

Khám xét như trên, cho phép ta nhận định được rõ là teo cơ do thần kinh hay do  bệnh của cơ.

Teo cơ do bệnh cơ:

Teo ở gốc chi, đặc biệt vùng thắt lưng, bả vai đưa đến dáng đi như vịt và ngồi xuống, đứng lên phải chống tay từng nấc kiểu “leo thang”.

Không bao giờ có thớ cơ co giật.

Tiến triển rất chậm có khi hàng năm.

Mất phản xạ của cơ (gõ cơ không giật).

Không bao giờ có rối loạn cảm giác.

Thường gặp ở trẻ con, có tính chất gia đình, người lớn cũng có thể bị.

Thường có sự giãn nở giả tạo của mô  xơ mỡ, sờ thấy được thoạt mới nhìn tưởng không có teo.

Không có phản ứng thoái hoá điện thông thường.

Teo cơ do thần kinh:

Teo cơ ở ngọn chi.

Rất hay có thớ cơ co giật.

Tiến triển nhanh, hoặc chậm tuỳ theo nguyên nhân

Có rối loạn phản xạ gân xương.

Thường có rối loạn cảm giác theo khu vực cảm giác của rễ hoặc dây thần kinh hoặc khu trú ở ngọn chi nhiều hơn gốc chi.

Có phản xạ thoái hoá điện.

Giá trị triệu chứng của teo cơ do thần kinh

Teo cơ do thần kinh gặp trong các bệnh làm  tổn thương tế bào thần kinh ngoại biên. Ta chia ra hai nhóm:

Teo cơ do tuỷ tổn thương ở sừng trước.

Teo cơ do rễ và dây thần kinh.

Teo cơ do tuỷ

Tiến triển nhanh: Gặp trong

Bệnh bại liệt trẻ em.

+Viêm não dịch khu trú ở thấp.

Chảy máu trong tuỷ.

Tiến triển chậm:

Teo cơ đơn thuần: điển hình có hội chứng Aran Duchenne:  teo cơ bàn tay trước, rồi teo cẳng tay, rất ít khi lên bả vai. Vì tiến triển kinh diễn, nên có biến chứng co gân bàn tay giống như bàn tay khỉ.

Teo cơ phối hợp: phối hợp với hội chứng tháp, gặp trong bệnh xơ cột bên teo của cơ Charcot.

Bệnh xơ cứng từng đám (scl rose en plaque) (thể điển hình xơ cứng từng đám không có teo cơ, chỉ có hội chứng tháp với hội chứng tiểu não).

Teo cơ phối hợp với hội chứng tiểu não: chủ yếu gặp trong bệnh ống sáo tuỷ (Syrigomýelie) với đặc điểm cảm giác nóng, đau mất, còn cảm giác sờ) phân ly cảm giác. Trong khu vực teo cơ  phản xạ gân xương mất.

Teo cơ do rễ và dây thần kinh

Ngoài tính cách của teo cơ do thần kinh  nói chung, còn có một số đặc điểm:

Teo đối xứng hai bên ở ngọn chi.

Bao giờ cũng mất phản xạ gân xương.

Có rất nhiều  rối loạn cảm giác chủ quan và khách quan.

Không có bao giờ có thớ cơ co giật.

Phân biệt giữa teo cơ của rễ hoặc dây thần kinh  nhiều khi rất khó, phải chọc   ò nước tuỷ: nếu có sự thay đổi của nước não tuỷ: thì chắc chắn có  sự tổn thương của rễ thần kinh.

Rối loạn dinh dưỡng ở da:

Có rất nhiều, ta chỉ kể một số trường hợp có giá trị chẩn đoán hoặc tiên lượng:

Rối loạn có giá trị chẩn đoán.

Loét ổ gà ở lòng bàn chân hoặc bàn tay (mal perforant plantaire ou pamaire).

Đầu ngón tay, chân bị cụt

Các rối loạn này có giá trị chẩn đoán đặc biệt với bệnh hủi hoặc bệnh ống sáo tuỷ.

Rối loạn có giá trị tiên lượng.

Loét hay xuất hiện ở mông, gặp trong các người bị liệt nửa người, liệt hai chân thể mềm hoặc trong tình trạng hôn mê, ỉa đái tại chỗ. Lúc đầu chỉ có một đám nhỏ vùng xương cùng, đầu xương đùi, sau lan rộng, có khi khắp cả mông đít, lòi xương ra ngoài.

Rối loạn này do người bệnh nằm lâu ngày trong một tư thế, làm máu không lưu thông tốt và  do vệ sinh kém…

Tiên lượng xấu, thường chết vì  gầy rộc và nhiễm khuẩn.

Rối loạn cơ tròn

Rất hay gặp trong các bệnh thần kinh. Thường xuất hiện ở giai đoạn bệnh đã rõ ràng. Tuy nhiên có một số trường hợp xuất hiện như những triệu chứng đầu tiên và có giá trị chẩn đoán lớn.

Rối loạn cơ tròn thường gây  các biến chứng nguy hiễm nhiễm khuẩn nhiễm độc, cho nên nó còn là một yếu tố  để tiên lượng bệnh.

Rối loạn cơ tròn bàng quang

Rối loạn kín đáo.

Có khi phải hỏi kỹ người bệnh mới phát hiện được.

Đái khó: Mỗi lần đi tiểu phải rặn, trong khi đái cũng phải rặn.

Đái rắt: Buồn đi tiểu luôn, mỗi lần đi nước tiểu rất ít.

Đái không nhịn được: Cảm thấy muốn đái, phải đi ngay, có khi không nhịn được, xón ra quần.

Rối loạn rõ rệt.

Bí đái: Người bệnh không buồn đái, bàng quang không bóp khi đầy nước tiểu và cơ tròn không mở.

Nếu bí đái không hoàn toàn, người bệnh còn đái được, nhưng không đái hết, nước tiểu bị ứ đọng lại một số lượng.

Nếu bí đái hoàn toàn. Hoàn toàn không buồn đái, nước tiểu ứ lại, sờ thấy bàng quang căng phình (cầu bàng quang).

Đái  vãi: Nước tiểu chảy ra không chủ động và người bệnh không có cảm giác  lúc nước tiễu chảy ra.

Đái tự động: Đái được, nhưng không chủ động đái và không chủ động ngừng. Không biết mình đái và không buồn đái.

Đó là trường hợp đái không nhịn được trên một bàng quang mất cảm giác.

Rối loạn đại tiện

Hai trường hợp hay gặp:

Bí đại tiện. Ruột đầy phân, nhưng không đại tiện được.

Đại tiện vãi, người ỉa dầm dề, không chủ động và không có cảm giác khi phân ra.

Giá trị triệu chứng

Ở trẻ em, hoạt động cơ tròn bàng quang, hậu môn có tính chất tự động theo cơ chế  phản xạ. Trung tâm phản xạ của tiểu tiện là S3 - S4.

Trung tâm phản của đại tiện là S4.

Từ  2 - 3 tuổi,  người ta đã điều khiển được đại tiện nhờ sự chỉ huy của não, chủ yếu là vỏ não. Trên lâm sàng, rối loạn cơ tròn bàng quang, hậu môn hay gặp trong các bệnh:

Tổn thương não:

Thường là do tổn thương hai bên não.

Hôn mê các loại.

Hôn mê sau động kinh.

Xơ cứng động mạch não.

Các u não: đặc biệt là  tiểu thuz giữa rất hay có rối loạn tiểu  tiện;  u thuz trên trước,  u não thất bên.

Tổn thương tuỷ:

Tổn thương khu trú trên các trung tâm phản xạ lưng cùng,  đặc biệt các tổn thương ở vùng phình thắt lưng và  vùng nón tận. Cụ thể  thấy trong các bệnh.

Đứt ngang tuỷ.

Viêm ngang tuỷ cấp.

Ép tuỷ cấp do u độc.

Ép tuỷ tiến triển chậm: U tuỷ trên vùng lưng cùng và ngay vùng lưng cùng.

Đặc biệt:

Đối với liệt hai chi dưới: Nếu có rối loạn cơ tròn thì chắc chắn do tổn thương trung ương. Các liệt ngoại biên không có rối loạn cơ tròn, là biểu hiện đầu tiên, nếu khám xét không kỹ, dễ bỏ qua.

- Bệnh tabet: rất nhiều trường hợp rối loạn cơ tròn, là biểu hiện đầu tiên, nếu khám xét không kỹ,  dễ bỏ qua.

Các bệnh  loạn thần kinh: Do yếu tố xúc cảm và sự mất thăng bằng thần kinh có thể gây ra đái rắt, đái khó, hoặc có khi bí đái trong bệnh hysteria.

Rối loạn sinh dục

Rất phức tạp, vì thuộc nhiều chuyên khoa: Tiết niệu, nội tiết, thần kinh, tinh thần. Ở đây chỉ kể một vài biểu hiện của bệnh thần kinh hay gặp và không đi sâu vào lĩnh vực chuyên khoa khác.

Liệt dương: Dương vật không cương nên không giao cấu được. Theo nghĩa rộng, liệt dương bao gồm mọi trường hợp  không giao cấu được, đó là một bệnh toàn thể hay một dị dạng của bộ máy sinh dục  cản trở việc giao cấu.

Lãnh cảm (frigidité) ở đàn bà: Không kích thích khi gần  đàn ông, giao cấu không có cảm giác thích thú.

Giá trị triệu chứng

Gặp trong một số hội chứng có tổn thương xâm phạm các trung tâm cường   ương và xuất tinh ở vùng tuỷ cùng, cụ thể trong liệt tiến triển, bệnh Tabet  và hội chứng liệt hai chân.

Về tinh thần, rất hay gặp  trong các bệnh loạn thần kinh, như thần kinh suy nhược, hysteria.  Rối loạn sinh dục, đối với loại bệnh này, gây cho người bệnh một sự  lo lắng, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống tinh thần của họ, do đó cũng là một yếu tố làm cho người bệnh nặng thêm lên.

Thành viên Dieutri.vn

 


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn tiểu tiện, đái buốt, đái rắt, bí đái

Khi bàng quang có tổn thương, nhất là vùng cổ bàng quang dễ bị kích thích, khối lượng nước tiểu rất ít cũng đủ gây phản xạ đó. Hậu quả là làm cho người bệnh phải đi đái luôn và đái buốt.

Hội chứng thiếu máu

Thiếu máu xẩy ra khi mức độ huyết sắc tố lưu hành của một người nào đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh cùng giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống.

Hội chứng rối loạn tiêu hoá

Đau bụng là triệu chứng cơ năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hoá và các tạng trong ổ bụng. Dấu hiệu đau có tính chất gợi ý đầu tiên khiến người thầy thuốc có hướng hỏi bệnh, thăm khám bệnh để chẩn đoán nguyên nhân gây đau bụng là gì.

Hội chứng xuất huyết

Xuất huyết là một hội chứng bệnh lý gặp ở nhiều chuyên khoa như: Xuất huyết dưới da hay gặp ở nội khoa, truyền nhiễm; xuất huyết dạ dày gặp ở khoa tiêu hoá; rong kinh.

Khám thắt lưng hông

Hội chứng thắt lưng - hông gồm có hai hội chứng thành phần là hội chứng cột sống và hội chứng dây rễ thần kinh. Khám lâm sàng hội chứng thắt lưng-hông nhằm mục đích phát hiện các triệu chứng của các hội chứng trên.

Hội chứng đau thắt lưng

Đau có thể khu trú ở thắt lưng hay lan dọc theo cột sống, hoặc lan xuống một hoặc hai chân. Đau có thể tăng lên do động tác như: Cúi, nghiêng, hoặc nâng vác, giảm đau khi nghỉ hoặc đau liên tục không liên quan đến động tác vận động của cột sống.

Khám hội chứng màng não

Khi màng não bị tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau, trên lâm sàng sẽ thấy biểu hiện của hội chứng màng não (meningismus).

Hội chứng tràn dịch màng phổi

Ổ màng phổi là một khoảng ảo. Bình thường trong ổ màng phổi có rất ít thanh dịch, đủ cho lá thanh và lá tạng trượt lên nhau được dễ dàng trong động tác hô hấp.

Chẩn đoán hạch to

Chẩn đoán nguyên nhân hạch to thường dễ, nếu chỉ là một triệu chứng nằm trong một bệnh cảnh có nhiều hội chứng cấp tính hơn. Nhưng nếu hạch to là một triệu chứng duy nhất hoặc nổi bật thì chẩn đoán thường khó khăn.

Khám và chẩn đoán phù

Phù là hiện tượng ứ nước ở trong các tổ chức dưới da hoặc phủ tạng. Sự ứ nước đó có thể gây bởi nhiều cơ chế, cho nên phù là triệu chứng của rất nhiều bệnh, nhiều khi dễ, chẩn đoán được ngay, nhưng cũng có khi rất khó.

Hội chứng suy tim

Tim có hai buồng (tim phải và tim trái) có nhiệm vụ khác nhau nên người ta chia ra suy tim phải và suy tim trái.

Xuất huyết tiêu hóa

Xuất huyết tiêu hoá là hiện tượng máu thoát ra khỏi lòng mạch chảy vào ống tiêu hoá, biểu hiện lâm sàng là nôn ra máu đi ngoài ra máu.

Hội chứng liệt nửa người

Theo Dèjerine, liệt nửa người là liệt tay chân cùng một bên của cơ thể do tổn thương từ các tế bào tháp đến xináp của chúng với tế bào sừng trước tủy sống.

Rối loạn chuyển hóa nước, điện giải

Trong cơ thể, các chất điện giải có một vai trò vô cùng quan trọng : duy trì áp lực thẩm thấu, cân bằng axit-bazơ, chi phối tính chịu kích thích thần kinh - cơ,vv...

Triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp

Nhồi máu cơ tim (NMCT) là một thể bệnh nặng của BTTMCB (bệnh tim thiếu máu cục bộ), với bản chất là đã có biến đổi thực thể - hoại tử một vùng cơ tim.

Xem theo danh mục