Vi khuẩn gây khối u ở góc hàm: câu hỏi y học

Ngày: 2018-3-24

By member of dieutri.vn

Biểu hiện thường viêm mô tế bào vùng mặt, thường chảy dịch theo các ống xoang. Nhiễm thương lan rộng không theo vùng mô nào, và cấu trúc xương gần đó cũng có thể bị ảnh hưởng

CÂU HỎI

Một người đàn ông 53 tuổi, nghiện rượu, khám với một khối u lớn ở góc hàm. Bệnh nhân mô tả khối u này lớn chậm trong 6 tháng qua và hiếm khi nào gây đau. Ông ta khai rằng cũng có sốt từng đợt trong thời gian trên. Gần đây, ông ta thấy phía dưới khối u rò dịch vàng. Ông ta không điều trị gì hiện tại cũng như quá khứ. Ông ta uống 6 lon bia mỗi ngày. Khám thấy nhiệt độ 37.9°C (100.2°F). Tổng trạng kém. Có sưng mô mềm lan tỏa và cứng ở góc xương hàm dưới trái. Nó có vẻ mềm, bờ không liên tục. Diện tích vùng sưng là 8x8cm. Chọc hút dịch gửi nhuộm Gram và cấy. Cấy lúc đầu mọc Eikenella corrodens. Bảy ngày sau đó, bạn nhân được cuộc gói báo rằng mọc trực khuẩn gram dương phân nhánh ở góc nhọn của môi trường nuôi cấy yếm khí. Vi sinh vât nào gây nên bệnh cảnh lâm sàng cho người đàn ông này?

A. Actinomyces.

B. Eikenella corrodens.

C. Mucormycosis.

D. Nocardia.

E. Peptostreptococcus.

TRẢ LỜI

Vị trí thường gặp của nhiễm actinomyces là vùng sọ mặt. Thường nhiễm liên quan đến tình trạng răng miệng kém, tổn thương vùng mặt hay nhổ răng. Biểu hiện thường viêm mô tế bào vùng mặt, thường chảy dịch theo các ống xoang. Nhiễm thương lan rộng không theo vùng mô nào, và cấu trúc xương gần đó cũng có thể bị ảnh hưởng. Chẩn đoán cần phải đặt ở mức nghi ngờ cao. Dịch thoát thường chứa các vi sinh vật khác, đặc biệt là trực khuẩn gram âm. Đặc điểm hạt lưu huỳnh thường không gặp ngoài trừ lấy mẩu ở mô sâu. Nhuộm gram cho thấy vùng trung tâm gram dương và những nhánh ở ngoại biên. Không giống như loài Nocardia kị khí khác, Actinomyces mọc chậm trong môi trường yếm khí và vi hiếu khí. Điều trị kháng sinh lâu dài mặc dù chúng rất nhạy cảm với penicillin. Điều này được cho rằng kháng sinh khó xâm nhập vào lớp mô hạt  lưu huỳnh thành dày. Điều trị hiện nay bao gồm penicillin tiêm mạch trong vòng 2-6 tuần tiếp theo sau đó là uống tổng cộng từ 6-12 tháng. Phẫu thuật được điều trị khi không đáp ứng với điều trị.

Đáp án: A.