Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt của DSM

Ngày: 9 - 8 - 2013

Chỉ cần 1 trong các triệu chứng đó khi có: hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh bình phẩm hành vi hay ý nghĩ của cá nhân hoặc ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau.


Để chẩn đoán tâm thần phân liệt, DSM-IV-TR (APA, 2000) cho rằng phải có ít nhất 2 trong số các triệu chứng liệt kê dưới xuất hiện rõ ràng trong thời gian 1 tháng:

Hoang tưởng.

Ảo giác.

Ngôn ngữ thanh xuân thường là nói hổ lốn hoặc không liên quan.

Hành vi hung bạo vô lối hoặc căng trương lực.

Các triệu chứng âm tính: cùn mòn cảm xúc, suy giảm ý chí, ngôn ngữ.

Chỉ cần 1 trong các triệu chứng đó khi có: hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh bình phẩm hành vi hay ý nghĩ của cá nhân hoặc ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau. Tiêu chuẩn thứ 2 là các triệu chứng gây ra những tổn thiệt đáng kể. tâm thần phân liệt được chia làm 4 thể tuỳ theo các triệu chứng nổi trội:

Thể thanh xuân: những đặc điểm nổi bật là ngôn ngữ và hành vi lố lăng, cảm xúc không phù hợp hoặc cùn mòn.

Paranoid: đây là thể thường gặp nhất của tâm thần phân liệt, điển hình bởi các hoang tưởng paranoid kéo dài. ảo thanh cũng có thể hỗ trợ cho những niềm tin hoang tưởng. Rối loạn cảm xúc và ngôn ngữ. Các triệu chứng căng trương lực không bền vững.

Căng trương lực: nổi bật với các rối loạn tâm thần - vận động. Bệnh có thể biểu hiện rất khác nhau, từ kích động đến sững sờ và uốn sáp, tạo hình, cá nhân có thể duy trì tư thế do người ngoài áp đặt trong vài giờ. Bên cạnh đó, người bệnh cũng có thể có hiện tượng vâng lời tự động, có trạng thái lơ mơ giống như ngủ kèm theo ảo giác sống động. Hiện nay thể bệnh này ít gặp ở các nước công nghiệp phát triển.

Di chứng: nét điển hình là không còn các hoang tưởng, ảo giác, ngôn ngữ thanh xuân, hành vi thanh xuân hoặc căng trương lực. Tuy nhiên vẫn còn một số triệu chứng  âm tính rõ rệt.

Quan điểm khác về những triệu chứng

Việc xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau bắt nguồn từ chỗ xem xét các triệu chứng nào đi cùng nhau tạo thành nhóm và cơ chế n∙o đứng đằng sau các nhóm triệu chứng đó. Phân tích yếu tố các dấu hiệu và triệu chứng của các thể tâm thần phân liệt khác nhau cho thấy có 3 nhóm triệu chứng chính: thanh xuân, dương tính và âm tính (Liddle và cs., 1994). Nhóm triệu chứng thanh xuân gồm: ngôn ngữ và hành vi thanh xuân, cảm xúc cùn mòn và không phù hợp (hoặc “rối loạn tư duy”).

Nhóm triệu chứng dương tính gồm ảo giác và hoang tưởng. Cuối cùng, các triệu chứng âm tính nói đến sự suy giảm hoạt động, bao gồm vô cảm, thiếu động cơ hoạt động và ngôn ngữ nghèo nàn. Mỗi triệu chứng này có thể có các nguyên nhân sinh học và tâm lí khác nhau.

Phê phán tâm thần phân liệt

Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt theo DSM-IV-TR khác đáng kể so với DSM-III (xem chương 1) và khác với định nghĩa tâm thần phân liệt của Liddle và cs. (1994). Khó định nghĩa được một cách chính xác tâm thần phân liệt đã tạo ra vấn đề cơ bản cho các nhà lâm sàng và các nhà nghiên cứu khi phát triển mô hình nguyên nhân hoặc tiếp cận điều trị. Khó khăn lớn đến mức nhiều nhà khoa học và lâm sàng đã đặt câu hỏi là liệu tâm thần phân liệt có tồn tại dưới một dạng độc lập nào đó mà DSM đã định nghĩa.

Vấn đề cơ bản trong quan điểm của DSM về tâm thần phân liệt là ở chỗ với cùng một cá nhân nhưng các thầy thuốc khác nhau có thể đưa ra những chẩn đoán rất khác nhau và chỉ cần có 2 triệu chứng khác nhau là đủ. Điều này đã bác bỏ quan niệm rằng với mỗi rối loạn có một cơ chế đằng sau nó. Nói một cách khác, nếu cùng bị một loại bệnh, các cá nhân phải có cùng nhóm triệu chứng. Một điểm nữa cũng đáng lưu ý là những người tâm thần phân liệt khác nhau lại đáp ứng khác nhau với thuốc như neuroleptic, lithium và benzodiazepines. Lại cũng có người không đáp ứng với một loại thuốc nào. Tương tự như vậy, liệu trình trị liệu cũng rất khác nhau. Như Bentall (1993) chỉ rõ: “Chúng ta chắc chắn phải đi đến kết luận quan trọng rằng: “Tâm thần phân liệt” là một bệnh không có các triệu chứng riêng biệt, không có tiến trình diễn biến riêng và không đáp ứng với một trị liệu cụ thể nào”. Trên cơ sở như vậy ông đưa ra ý kiến cho rằng chẩn đoán không đủ độ hiệu lực nên cần phải loại bỏ quan niệm về tâm thần phân liệt. Hơn thế nữa, để giải thích cho đa hội chứng, những nỗ lực tương lai nên tập trung vào giải thích những hành vi hoặc trải nghiệm cụ thể: mỗi một triệu chứng của “tâm thần phân liệt” cần phải được xem như là một rối loạn  riêng biệt với những diễn biến và trị liệu riêng biệt.

Vấn đề tiếp theo là các hiện tượng đó không chỉ là của riêng những người được chẩn đoán là tâm thần phân liệt, có nhiều người không tìm đến bác sĩ tâm thần mặc dù họ vẫn nghe thấy tiếng nói trong đầu. Vậy lấy gì để phân biệt giữa người tìm kiếm và người không tìm kiếm sự trợ giúp để giải quyết các vấn đề  của họ; phân biệt sự khác nhau trong các đáp ứng của cá nhân và khả năng của họ đối phó với những vấn đề đó. Các chiến lược đối phó tích cực bao gồm xác lập các giới hạn về thời gian để nghe tiếng nói và nói chuyện lại và nghe có chọn lọc những giọng nói tích cực (Romme & Escher, 1989).

Những nỗ lực nhằm thống nhất các hiện tượng khác nhau vào một tên gọi “tâm thần phân liệt” vẫn còn đang gây tranh cãi. Các phần tiếp theo của chương sẽ đề cập nhiều hơn đến xu hướng truyền thống và tổng quan các nghiên cứu dựa trên DSM hoặc những định nghĩa tương tự như vậy về tâm thần phân liệt. Một số người có thể phản đổi rằng dạng nghiên cứu như vậy đang đi vào ngõ cụt cũng như việc tìm kiếm các yếu tố nguyên nhân gây ra bệnh và vốn dĩ chúng không tồn tại. ở mức độ tích cực hơn có thể xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ hoặc đưa ra cách thức  trị liệu có hiệu quả hơn đối với tất cả những gì mà hiện nay quan niệm đang nằm trong nhãn hiệu “tâm thần phân liệt”. Điều này cũng cho thấy một số vấn đề mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt khi tìm cách giải thích những yếu tố chung đóng góp vào các trải nghiệm khác nhau của những người được chẩn đoán là tâm thần phân liệt. Do hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào những người được chẩn đoán là tâm thần phân liệt nên thuật ngữ này được dùng chung trong các mục mặc dù vẫn còn có những đánh giá khác nhau về tính hiệu lực của khái niệm.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hành vi dị thường

Những cá nhân hưng cảm đi lại rất nhanh, nói nhanh, to; những đoạn đối thoại của họ thường có nhiều lời bông đùa và cố gắng tỏ ra tài giỏi. Họ thích những gì chói lọi, sặc sỡ.

Chấn thương sọ não tâm lý dị thường

Đối với những người sống sót và hồi phục ý thức, sự hồi phục diễn ra theo cách thức khá điển hình. ở giai đoạn đầu tiên là sự lú lẫn cấp tính và rối loạn định hướng.

Điều trị tâm thần phân liệt

Việc sử dụng thuốc chống tâm thần không phải là không có vấn đề. Chúng có những tác dụng phụ khác nhau và thường dẫn đến việc những người dùng thuốc luôn tìm cách giảm liều hoặc bỏ thuốc.

Nguyên nhân của tâm thần phân liệt

Nghiên cứu về di truyền mới đây của Tienari và cs. (2000) đã so sánh tỉ lệ tâm thần phân liệt ở những người con nuôi của mẹ được chẩn đoán tâm thần phân liệt với con nuôi của những bà mẹ không bị tâm thần phân liệt.

Bản chất và nguyên nhân trầm cảm

Những người bị trầm cảm được đặc trưng bởi các vấn đề về cảm xúc, động cơ, sinh lí và nhận thức. Họ cảm thấy bản thân kém cỏi và không tìm được thích thú từ những hoạt động thường diễn ra.

Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt của DSM

Chỉ cần 1 trong các triệu chứng đó khi có: hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh bình phẩm hành vi hay ý nghĩ của cá nhân hoặc ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau.

Trị liệu trầm cảm

Hai nhóm thuốc nhằm làm tăng nồng độ  của serotonin bằng cách ức chế tái hấp thu nó ở tận cùng trước xi nap: thuốc 3 vòng (ví dụ, imipramine, amitriptyline) và SSRIs (ví dụ, fluoxetine, sertraline).

Sử dụng heroin tâm lý dị thường

Hầu hết những can thiệp được mô tả dưới đây theo sau một giai đoạn cai. Liều methadone được giảm một cách từ từ sau một khoảng thời gian là vài tuần để giảm thiểu các triệu chứng cai.

Bản chất của tâm thần phân liệt

Cho đến nay người ta vẫn tiếp tục tranh luận về bản chất của tâm thần phân liệt. Tuy nhiên hầu hết đều nhất trí rằng nó bao gồm những rối loạn liên quan đến tư duy và tri giác.

Trị liệu tâm thần phân liệt

Trị liệu sốc điện (ECT) là cho dòng điện phóng qua não trong một khoảng thời gian ngắn nhằm mục đích nhằm gây ra các cơn co giật kiểu động kinh, giúp cải thiện trạng thái tâm thần.

Rối loạn tăng động giảm chú ý

Dopamin là chất DTTK được xem là có tham gia vào ADHD. Các cứ liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu phát hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệu chứng của ADHD giảm.

Rối loạn ám ảnh cưỡng bức hành vi dị thường

Những ý nghĩ, sự thôi thúc hay những hình ảnh lặp đi lặp lại và dai dẳng mà chủ thể phải trải nghiệm như một sự chịu đựng và vô lí, khiến cho chủ thể lo lắng và khổ sở một cách đáng kể.

Chán ăn và cuồng ăn tâm lí hành vi dị thường

Klump và cs. (2001) ước tính 74% các hành vi chán ăn khác nhau của chứng chán ăn có thể quy cho yếu tố gen, sau khi nghiên cứu sinh đôi trong đó họ tìm thấy 50% cặp sinh đôi cùng trứng và không có cặp sinh đôi khác trứng nào cùng bị chứng chán ăn.

Loạn dục cải trang hành vi dị thường

Trong một nghiên cứu điều tra trên 1000 người đàn ông trưởng thành bị loạn dục cải trang, Docter và Prince (1997) cho thấy 40% luôn luôn có khoái cảm tình dục hoặc cực khoái khi họ mặc đồ phụ nữ.

Dự phòng những vấn đề sức khoẻ tâm thần

Bỏ qua khía cạnh chuyên môn của từ ngữ, điều này có nghĩa rằng tăng cường sức khoẻ không chỉ tiến hành với các cá nhân mà cần phải tiến hành ở mức độ xã hội để khuyến khích sự cải thiện về mặt sức khoẻ.

Mô hình gia đình các rối loạn sức khoẻ tâm thần

Trị liệu hệ thống liên quan đến toàn bộ gia đình, và đôi khi cả gia đình mở rộng, với thông thường hai nhà trị liệu hoặc nhiều hơn. Gia đình có thể không được biết rõ về những nhà trị liệu mà chỉ biết rằng họ có mặt.

Các rối loạn nhân cách hành vi dị thường

Mức độ phân bố trong dân cư của những rối loạn khác nhau như sau: 0,4% dân số đối với rối loạn nhân cách paranoid và ái kỉ, 4,6% đối với rối loạn nhân cách ranh giới (Davidson 2000).

Trị liệu lo âu

Benzodiazepine tốt nhất - Valium mới được đưa ra thị trường vài năm. Vào giữa những năm 1980, các benzodiazepine là thuốc hướng thần được chỉ định rộng rãi nhất.

Rối loạn lo âu lan toả hành vi dị thường

Nỗi lo của những người bị GAD thường liên quan đến những vấn đề của đời sống thường nhật hoặc những vấn đề không mấy quan trọng mà họ có thể nhận thức được song rất khó có thể kiểm soát nó.

Bệnh Alzheimer tâm lý dị thường

Để chẩn đoán là AD, các thiếu hụt này phải gây ra những tổn thiệt đáng kể về chức năng nghề nghiệp hoặc xã hội và tạo ra sự khác biệt rõ nét so với trước đây.

Loạn dục với trẻ em

Những hành vi loạn dục với trẻ em cũng rất khác nhau. Một số người chỉ nhìn mà không đụng chạm vào trẻ. Một số khác lại thích động chạm hoặc cởi quần áo của chúng.

Rối loạn stress sau sang chấn

Những sự kiện gây ra PTSD rất đa dạng. Nó có thể bao gồm những trải nghiệm chiến tranh, bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất thời thơ ấu, cưỡng dâm, thiên tai hoặc những thảm họa do công nghệ.

Bằng chứng và phục hồi trí nhớ

Trong cuộc tranh luận về tính chân thực của trí nhớ khôi phục, mỗi bên đều đưa ra bằng chứng để khẳng định ý kiến của mình đồng thời để nghi ngờ những ý kiến đối lập.

Đánh bạc bệnh lí tâm lý dị thường

Một trong những yếu tố được xem như có liên quan tới đánh bạc là cái “thú” của thắng bạc hoặc gần thắng bạc, nó cũng tương đương với việc đạt được cái thú đó trong nghiện ma túy.

Giải thích về trị liệu sinh học hành vi dị thường

Trị liệu thuốc được dùng để thay đổi mức độ các chất dẫn truyền thần kinh và cảm xúc, hành vi. Hai dạng can thiệp vật lí được sử dụng để điều trị những vấn đề sức khỏe tâm thần: sốc điện và phẫu thuật tâm thần.

Xem theo danh mục