Rối loạn cảm xúc theo mùa hành vi dị thường

Ngày: 8 - 8 - 2013

Chỉ có số ít những người có các triệu chứng trầm trọng, kéo dài qua cả mùa đông mới được chẩn đoán là SAD. Còn những người mà sự thay đổi về hoạt động và trọng lượng theo mùa ít không lớn thì vẫn trong cộng đồng.


Mãi đến giữa những năm 1980, rối loạn cảm xúc theo mùa ( SAD - seasonal affective disorder) mới được nhìn nhận là một rối loạn riêng biệt. (Rosenthal và cs. 1984). DSM-IV-TR (APA 2000) đã mô tả rối loạn này với những đặc điểm sau:

Mối quan hệ thời gian có tính quy luật giữa sự khởi phát một pha trầm cảm và một khoảng thời gian cụ thể trong năm.

Bệnh hoàn toàn thuyên giảm trong những khoảng thời gian nhất định của năm.

Trong 2 năm trước đó phải có 2 pha trầm cảm chủ yếu (đảm bảo những tiêu chí nói trên) diễn ra.

Số lượng các pha trầm cảm theo mùa nhiều hơn số lượng các pha trầm cảm không theo mùa.

Các đặc điểm của SAD có vẻ hoàn toàn khác với trầm cảm chủ yếu và bao gồm tăng cảm giác ngon miệng thèm ăn các chất bột, tăng cân, ngủ nhiều, cũng như các triệu chứng trầm cảm khác. Đặc thù của các cơn mùa đông là bắt đầu vào tháng 11 và diễn ra trong khoảng 5 tháng. Những người bị SAD sẽ thuận lợi hơn nếu họ sống ở những vùng thấp với mùa đông ngắn hơn. Những triệu chứng của họ sẽ xấu hơn nếu họ dời đi theo hướng ngược lại (Rosenthal và cs. 1984).

Chỉ có số ít những người có các triệu chứng trầm trọng, kéo dài qua cả mùa đông mới được chẩn đoán là SAD. Còn những người mà sự thay đổi về hoạt động và trọng lượng theo mùa ít không lớn thì vẫn trong cộng đồng. Terman (1988) đã nhận định rằng vào những tháng mùa đông, 50% dân số nói chung giảm năng lượng, 47% tăng cân, trong khi 31% giảm các hoạt động xã hội; 25% trong số những thay đổi đó kéo theo những vấn đề cá nhân. Wick và cs. (1992)  cho thấy 3% trong nhóm nghiên cứu thuần tập người Đức bộc lộ hoặc là rối loạn cảm xúc theo mùa, hoặc là dạng ‘cận hội chứng’ SAD 2 lần trong 2 năm liền nhau. Tỉ lệ SAD ở Scotland vào khoảng 3,5% (Eagles và cs. 1999).

Nguyên nhân của rối loạn cảm xúc theo mùa

Những giải thích về SAD hầu như chỉ có tính chất sinh học.

Yếu tố di truyền

Mặc dù gần đây người ta rất quan tâm đến SAD, song vẫn có rất ít nghiên cứu khảo sát vai trò của yếu tố di truyền trong nguyên nhân của SAD. Tuy nhiên, Madden và cs. (1996) đã nghiên cứu sự trùng hợp đối với SAD trên một mẫu lớn những cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng. Họ cũng tiến hành đo lường một số lượng lớn những biến số môi trường và xác định sự quan trọng tương đối của di truyền và các biến số môi trường. Nhóm nghiên cứu này kết luận rằng khoảng 29% khác biệt trong nguy cơ bị SAD có thể quy cho yếu tố di truyền.

Giả thuyết về melatonin

Melatonin có liên quan đến SAD. Đó là một loại hoc mon được giải phóng vào buổi tối, từ tuyến tùng (pineal gland) nằm ở dưới vỏ não, sau đó xuất hiện ở não giữa và phần dưới đồi. Nó kiểm soát giấc ngủ và việc ăn uống. ở động vật có vú sống hoang dã, sự giải phóng melatonin ban đêm dài hơn sẽ làm giảm hoạt động của chúng, làm chúng chậm chạp và chuẩn bị cho chúng quá trình nghỉ đông hoặc trú đông. Theo thuyết trầm cảm liên quan đến melatonin, nó cũng có hiệu ứng tương tự ở con người, mặc dù đa số chúng ta có khả năng vượt qua tác động của nó và giải quyết những vấn đề của mình. Song, một số cá nhân tỏ ra đặc biệt nhạy cảm với sự tăng melatonin vào những tháng mùa đông và thể hiện chậm chạp rõ rệt, điều thể hiện khá rõ nét trong các triệu chứng của SAD (Blehar & Rosenthal, 1989). Trong những trường hợp ngược lại của SAD, một số cá nhân dường như bị sự giảm melatonin ảnh hưởng đến vào mùa hè và trải qua những giai đoạn khí sắc hưng phấn và vui vẻ. Chứng cứ về vai trò của melatonin phần nào đó còn gây nhiều mâu thuẫn. Trong khi một số nghiên cứu đã tìm ra được mối liên quan giữa lượng melatonin và sự khởi phát cũng như mức độ nghiêm trọng của SAD, dù không phải luôn luôn là thế, song vai trò của nó trong nguyên nhân gây ra SAD vẫn chưa được hiểu hoàn toàn.

Giả thuyết về hoạt động hàng ngày

Để thêm vào giả thuyết về melatonin, Lewy và cs. (1998) đã đưa ra giả thuyết rằng ngoài việc lượng melatonin đóng vai trò quyết định đối với khí sắc, thì thời điểm mà nó giảm sút đi mới là quan trọng đối với sự khởi phát và duy trì SAD. Trong giả thuyết về sinh hoạt thường ngày của họ, họ cho rằng trầm cảm bình thường có thể do tình trạng thiếu ngủ được gây ra bởi sự phá vỡ vòng tuần hoàn ngủ-thức hàng ngày. Đối với SAD, theo nhóm nghiên cứu này, những thay đổi về thời gian của lúc bình minh và hoàng hôn trong quá trình chuyển từ mùa đông hè sang mùa đông đã làm thay đổi thời gian mà melatonin được giải phóng, dẫn tới sự thay đổi nhịp điệu giấc ngủ hàng ngày, kéo nó ra khỏi sự liên kết với các nhịp điệu sinh học khác. Mục đích của liệu pháp là phải thiết lập lại các pha của vòng tuần hoàn ngủ-thức như trong mùa hè. Theo Lewy, có thể làm được điều này bằng cách phơi mình trong ánh sáng vào buổi sớm, điều này giúp cá nhân duy trì được tuần hoàn thức-ngủ của mùa hè và duy trì được lượng melatonin cho đến cuối ngày. Điều này, cùng với việc ngủ sớm hơn vào buổi tối, tỏ ra là một phương pháp điều trị SAD có hiệu quả. Công việc của chính nhóm nghiên cứu này đã ủng hộ giả thuyết của họ, khi họ tìm ra rằng liệu pháp ánh sáng vào buổi sớm có hiệu quả cao hơn nếu chúng ta làm được điều đó vào buổi tối: tác dụng có thể giữ được miễn là cá nhân duy trì thời gian ngủ và thức của họ như trong mùa hè (Lewy và cs. 1998).

Giả thuyết về serotonin

Giả thuyết cuối cùng được đưa ra là ít nhất cũng có một vài cơ chế tiềm ẩn trong SAD không phải là đặc biệt đối với hội chứng này, và có lẽ chính chúng lại là một dạng khác của trầm cảm mà thôi. Có rất nhiều yếu tố để có thể coi serotonin là nguyên nhân của SAD. Serotonin liên quan đến sự kiểm soát chế độ ăn uống và giấc ngủ, và nó là  tiền chất của melatonin. Lượng serotonin thay đổi theo mùa, và việc làm giảm lượng serotonin bằng cách loại bỏ một tiền chất đối với serotonin, chất trytophan, trong chế độ ăn, dẫn đến các triệu chứng trầm cảm trong suốt mùa hè ở những người có biểu hiện điển hình SAD trong mùa đông (Neumeister và cs. 1997). Một chứng cứ rõ ràng hơn về vai trò của serotonin được thấy từ điều trị thử nghiệm bằng SSRIs. Cả sertraline và fluoxetine đều đã tỏ ra có tác dụng ở mức độ vừa phải trong điều trị SAD. Tuy nhiên, nhìn chung những phương pháp này không hiệu quả bằng liệu pháp ánh sáng (Partonen và Lonnqvist 1998), cho thấy rằng dù cho lượng serotonin có thể là một nguyên nhân ngầm ẩn của SAD, nó cũng không hoàn toàn thuyết phục.

Điều trị rối loạn cảm xúc theo mùa

Phương pháp điều trị SAD đã được thừa nhận là điều trị bằng ánh sáng trắng (“bright light” treatment), phương pháp khắc phục sự giảm lượng melatonin. Đặc trưng của phương pháp này là cá nhân phơi mình trong ánh sáng nhân tạo mạnh, dao động từ 2.500 luxơ trong 2 giờ đến 10.000 luxơ trong nửa giờ mỗi ngày trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 tuần. Để tiện so sánh, cần biết rằng thông thường, ánh sáng trong nhà chỉ ở mức 100 luxơ hoặc ít hơn. ánh sáng ở ngoài có thể từ 2000 luxơ hoặc ít hơn trong ngày mưa mùa đông và 10.000 luxơ dưới ánh nắng mặt trời trực tiếp.

Những can thiệp này tỏ ra có hiệu quả. Trong siêu phân tích những nghiên cứu có liên quan, Terman và cs. (1989), đã báo cáo về một sự cải thiện đáng kể trong 67% người bị SAD nhẹ và 40% người rối loạn vừa và nặng, được điều trị bằng liệu pháp ánh sáng: kết quả còn tốt rõ rệt hơn so với những người trị liệu bằng placebo. Gần đây hơn, Sumaya và cs. (2001) đ đã tiến hành một thử nghiệm: các bệnh nhân trầm cảm được đặt vào 3 hoàn cảnh một cách ngẫu nhiên: nhóm thứ nhất được điều trị bằng một “liều” ánh sáng 10.000 luxơ 30 phút mỗi ngày trong 1 tuần; nhóm thứ hai nhận một lượng ánh sáng 300 luxơ không có tác dụng trị liệu (ánh sáng ở đây chỉ là một loại placebo) trong cùng khoảng thời gian đó và nhóm thứ 3 không được trị liệu. Sau thực nghiệm, 50% trong số những người nhận được trị liệu tích cực không lặp lại những triệu chứng trầm cảm nữa. Mức độ trầm cảm không thay đổi đối với 2 nhóm còn lại. Tuy nhiên, có thể phải cân nhắc đến đáp ứng placebo đối với liệu pháp ánh sáng, đôi khi nó tương đương với liệu pháp điều trị tích cực. Wileman và đồng nghiệp năm 2001 đã chia ngẫu nhiên bệnh nhân SAD vào các điều kiện trị liệu tích cực (4 tuần với ánh sáng 10.000 luxơ) và điều trị placebo (4 tuần với ánh sáng 300 luxơ).

Ngay sau điều trị, 30% những người được điều trị tích cực và 33% những người trong nhóm được dùng placebo không còn trầm cảm nữa; 63% trong nhóm thứ nhất và 57% thuộc nhóm còn lại có biểu hiện cải thiện rõ rệt. Tuy thế, liệu pháp ánh sáng vẫn được coi là liệu pháp hàng đầu trong điều trị SAD.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hành vi dị thường

Những cá nhân hưng cảm đi lại rất nhanh, nói nhanh, to; những đoạn đối thoại của họ thường có nhiều lời bông đùa và cố gắng tỏ ra tài giỏi. Họ thích những gì chói lọi, sặc sỡ.

Chấn thương sọ não tâm lý dị thường

Đối với những người sống sót và hồi phục ý thức, sự hồi phục diễn ra theo cách thức khá điển hình. ở giai đoạn đầu tiên là sự lú lẫn cấp tính và rối loạn định hướng.

Điều trị tâm thần phân liệt

Việc sử dụng thuốc chống tâm thần không phải là không có vấn đề. Chúng có những tác dụng phụ khác nhau và thường dẫn đến việc những người dùng thuốc luôn tìm cách giảm liều hoặc bỏ thuốc.

Nguyên nhân của tâm thần phân liệt

Nghiên cứu về di truyền mới đây của Tienari và cs. (2000) đã so sánh tỉ lệ tâm thần phân liệt ở những người con nuôi của mẹ được chẩn đoán tâm thần phân liệt với con nuôi của những bà mẹ không bị tâm thần phân liệt.

Bản chất và nguyên nhân trầm cảm

Những người bị trầm cảm được đặc trưng bởi các vấn đề về cảm xúc, động cơ, sinh lí và nhận thức. Họ cảm thấy bản thân kém cỏi và không tìm được thích thú từ những hoạt động thường diễn ra.

Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt của DSM

Chỉ cần 1 trong các triệu chứng đó khi có: hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh bình phẩm hành vi hay ý nghĩ của cá nhân hoặc ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau.

Trị liệu trầm cảm

Hai nhóm thuốc nhằm làm tăng nồng độ  của serotonin bằng cách ức chế tái hấp thu nó ở tận cùng trước xi nap: thuốc 3 vòng (ví dụ, imipramine, amitriptyline) và SSRIs (ví dụ, fluoxetine, sertraline).

Sử dụng heroin tâm lý dị thường

Hầu hết những can thiệp được mô tả dưới đây theo sau một giai đoạn cai. Liều methadone được giảm một cách từ từ sau một khoảng thời gian là vài tuần để giảm thiểu các triệu chứng cai.

Bản chất của tâm thần phân liệt

Cho đến nay người ta vẫn tiếp tục tranh luận về bản chất của tâm thần phân liệt. Tuy nhiên hầu hết đều nhất trí rằng nó bao gồm những rối loạn liên quan đến tư duy và tri giác.

Trị liệu tâm thần phân liệt

Trị liệu sốc điện (ECT) là cho dòng điện phóng qua não trong một khoảng thời gian ngắn nhằm mục đích nhằm gây ra các cơn co giật kiểu động kinh, giúp cải thiện trạng thái tâm thần.

Rối loạn tăng động giảm chú ý

Dopamin là chất DTTK được xem là có tham gia vào ADHD. Các cứ liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu phát hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệu chứng của ADHD giảm.

Rối loạn ám ảnh cưỡng bức hành vi dị thường

Những ý nghĩ, sự thôi thúc hay những hình ảnh lặp đi lặp lại và dai dẳng mà chủ thể phải trải nghiệm như một sự chịu đựng và vô lí, khiến cho chủ thể lo lắng và khổ sở một cách đáng kể.

Chán ăn và cuồng ăn tâm lí hành vi dị thường

Klump và cs. (2001) ước tính 74% các hành vi chán ăn khác nhau của chứng chán ăn có thể quy cho yếu tố gen, sau khi nghiên cứu sinh đôi trong đó họ tìm thấy 50% cặp sinh đôi cùng trứng và không có cặp sinh đôi khác trứng nào cùng bị chứng chán ăn.

Loạn dục cải trang hành vi dị thường

Trong một nghiên cứu điều tra trên 1000 người đàn ông trưởng thành bị loạn dục cải trang, Docter và Prince (1997) cho thấy 40% luôn luôn có khoái cảm tình dục hoặc cực khoái khi họ mặc đồ phụ nữ.

Dự phòng những vấn đề sức khoẻ tâm thần

Bỏ qua khía cạnh chuyên môn của từ ngữ, điều này có nghĩa rằng tăng cường sức khoẻ không chỉ tiến hành với các cá nhân mà cần phải tiến hành ở mức độ xã hội để khuyến khích sự cải thiện về mặt sức khoẻ.

Mô hình gia đình các rối loạn sức khoẻ tâm thần

Trị liệu hệ thống liên quan đến toàn bộ gia đình, và đôi khi cả gia đình mở rộng, với thông thường hai nhà trị liệu hoặc nhiều hơn. Gia đình có thể không được biết rõ về những nhà trị liệu mà chỉ biết rằng họ có mặt.

Các rối loạn nhân cách hành vi dị thường

Mức độ phân bố trong dân cư của những rối loạn khác nhau như sau: 0,4% dân số đối với rối loạn nhân cách paranoid và ái kỉ, 4,6% đối với rối loạn nhân cách ranh giới (Davidson 2000).

Trị liệu lo âu

Benzodiazepine tốt nhất - Valium mới được đưa ra thị trường vài năm. Vào giữa những năm 1980, các benzodiazepine là thuốc hướng thần được chỉ định rộng rãi nhất.

Rối loạn lo âu lan toả hành vi dị thường

Nỗi lo của những người bị GAD thường liên quan đến những vấn đề của đời sống thường nhật hoặc những vấn đề không mấy quan trọng mà họ có thể nhận thức được song rất khó có thể kiểm soát nó.

Bệnh Alzheimer tâm lý dị thường

Để chẩn đoán là AD, các thiếu hụt này phải gây ra những tổn thiệt đáng kể về chức năng nghề nghiệp hoặc xã hội và tạo ra sự khác biệt rõ nét so với trước đây.

Loạn dục với trẻ em

Những hành vi loạn dục với trẻ em cũng rất khác nhau. Một số người chỉ nhìn mà không đụng chạm vào trẻ. Một số khác lại thích động chạm hoặc cởi quần áo của chúng.

Rối loạn stress sau sang chấn

Những sự kiện gây ra PTSD rất đa dạng. Nó có thể bao gồm những trải nghiệm chiến tranh, bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất thời thơ ấu, cưỡng dâm, thiên tai hoặc những thảm họa do công nghệ.

Bằng chứng và phục hồi trí nhớ

Trong cuộc tranh luận về tính chân thực của trí nhớ khôi phục, mỗi bên đều đưa ra bằng chứng để khẳng định ý kiến của mình đồng thời để nghi ngờ những ý kiến đối lập.

Đánh bạc bệnh lí tâm lý dị thường

Một trong những yếu tố được xem như có liên quan tới đánh bạc là cái “thú” của thắng bạc hoặc gần thắng bạc, nó cũng tương đương với việc đạt được cái thú đó trong nghiện ma túy.

Giải thích về trị liệu sinh học hành vi dị thường

Trị liệu thuốc được dùng để thay đổi mức độ các chất dẫn truyền thần kinh và cảm xúc, hành vi. Hai dạng can thiệp vật lí được sử dụng để điều trị những vấn đề sức khỏe tâm thần: sốc điện và phẫu thuật tâm thần.

Xem theo danh mục