Rối loạn xác định phân ly

Ngày: 8 - 8 - 2013

Những người đưa ra mô hình sang chấn thời thơ ấu (Gleaves, 1996) cho rằng kinh nghiệm về một sang chấn nghiêm trọng trong thời kì thơ ấu tạo ra sự phân tách tâm thần hoặc sự phân li như một phần của cơ chế phòng vệ.


Một đặc tính của những cá nhân được chẩn đoán là mắc chứng rối loạn xác định phân li (DID - dissociative identity disorder) là rằng họ cư xử như họ có hai hay nhiều hơn những bản thể hoặc nhân cách khác biệt, được gọi là những người thay thế (alter). Khác với trước đây, khi những người có DID ( trước kia còn được gọi là đa nhân cách) thông báo về vài nhân cách thay thế, số người thay thế hiện nay trung bình là 15 và có một số cá nhân bộc lộ hơn 100 nhân cách. Theo DSM- IV-TR, những tiêu chuẩn chẩn đoán cho DID là:

Sự hiện diện của hai hoặc nhiều bản thể hoặc trạng thái nhân cách riêng biệt, mỗi bản thế/nhân cách với những cách thức suy nghĩ, liên hệ và nhận thức riêng về môi trường cũng như bản thân tương đối kéo dài

Ít nhất hai trong số những bản thể hoặc trạng thái nhân cách thường xuyên và thay đổi nhau kiểm soát hành vi của cá nhân.

Không có khả năng nhớ lại những thông tin cá nhân quan trọng. Việc mất khả năng nhớ này là quá rộng lớn để có thể giải thích như sự lãng quên thông thường.

Sự nhiễu loạn không do những hiệu quả sinh lí trực tiếp, lạm dụng chất kích thích hay một bệnh lí nào đó.

Nguyên nhân rối loạn xác định phân li

Thực tế, bản chất và sự tồn tại của DID “thực” cũng được tranh cãi quyết liệt như sự tồn tại của kí ức phục hồi, và các chứng cứ cũng tương tự như vậy. Một số cho rằng bản thân sự tồn tại của nó là một minh chứng và rằng không có nhiều người từng trải qua các triệu chứng này phủ nhận tính thực tế của vấn đề. Những người khác phủ nhận khái niệm và tranh cãi rằng những triệu chứng được tạo ra bởi những cá nhân báo cáo về chúng, hoặc thậm chí được gieo vào ý thức của họ bởi những nhà trị liệu quá hăng hái. Hai lí thuyết chính về DID cho rằng nó vừa là kết quả của một sang chấn thời thơ ấu hoặc là một hệ thống cấu trúc mang tính xã hội, được tạo bởi cá nhân bị tổn thương và được các nhà trị liệu đẽo gọt.

Sang chấn thời thơ ấu

Những người đưa ra mô hình sang chấn thời thơ ấu (Gleaves, 1996) cho rằng kinh nghiệm về một sang chấn nghiêm trọng trong thời kì thơ ấu tạo ra sự phân tách tâm thần hoặc sự phân li như một phần của cơ chế phòng vệ. Những đứa trẻ bị lạm dụng học cách phân li, để nhập vào một trạng thái tự thôi miên, thay thế những kí ức về việc bị lạm dụng trong tiềm thức như một phương tiện để đương đầu với sang chấn. Những phần bị phân li của cá nhân “phân chia”  vào những nhân cách thay thế. Những nhân cách này, khi trưởng thành, bộc lộ bản thân họ nhằm giúp cá nhân đương đầu với những tình huống gây stress và thể hiện sự oán giận hoặc những cảm xúc khác mà đối với nhân cách ban đầu là không thể chấp nhận được.

Số người thay thế phụ thuộc vào một số yếu tố như: tính nghiêm trọng và thời kì xảy ra lạm dụng. Mỗi người thay thế có một công việc trong hệ thống. Hầu hết những người thay thế bảo vệ nhân cách chủ khỏi kí ức về sang chấn. Thường mỗi người thay thế bảo vệ một phần kí ức riêng biệt. Một số người thay thế biết về những thay thế khác còn một số thì không.

Hầu hết cả người thay thế không nhìn bản thân họ trong thân xác sinh học mà họ đang có: trẻ em nhìn thấy mình cao 4 feet (khoảng 1,2 m), cô gái thấy mình là phụ nữ v.v... Họ có thể có quốc tịch và chủng tộc khác nhau. Một số có thể nói ngôn ngữ khác nhau. Những người thay thế có những biểu hiện gương mặt và phong thái khác nhau. Có rất nhiều dạng người thay thế khác nhau và các hệ thống khác nhau. Tuy nhiên có một số dạng người thay thế phổ biến. Sau đây là lời mô tả của một cá nhân về những người thay thế sống ở trong bạn đời của cá nhân đó, một người có DID.

Chủ: người này có thể là nhân cách nguyên bản, hoặc có thể là nhân cách thay thế bộc lộ chủ yếu ra với thế giới bên ngoài.

Nguyên bản: người này có thể hoạt động bình thường và tỉnh hoặc được báo là đang ngủ. Người này đôi khi được xem như là nhân cách cốt lõi.

Trẻ em: đứa trẻ thay thế (hoặc “nhỏ bé” như họ vẫn trìu mến được gọi) có thể từ độ tuổi rất bé (tuổi còn được ẵm) trở lên. Đây là người chịu đựng nhiều từ chuyện lạm dụng và thường nhớ nhiều về sự kiện đó. Họ thể hiện những hành động phù hợp với lứa tuổi. Họ thường mang những nỗi đau, cả về mặt tình cảm cũng như thể chất.

Thiếu niên: Hầu hết các hệ thống đều có người thay thế thiếu niên. Những người thay thế này thường đã từng đến trường và khi này không đi học nữa.

Người gác cổng: Một số hệ thống có người gác cổng, đây là người người chỉ huy và kiểm soát cơ thể. Họ có thể điều khiển khoảng thời gian một người thay thế chiếm giữ cơ thể. Họ thường không tự thể hiện bản thân ra ngoài, nhưng dường như họ có vẻ hạnh phúc khi quan sát và chỉ dẫn cho những người khác.

Người trợ giúp bản thân bên trong: Những người giúp đỡ bản thân bên trong bảo vệ những người thay thế. Họ thường biết tất cả những người thay thế và chi tiết về sự lạm dụng mà những người thay thế đã trải qua. Họ rất có ích trong trị liệu, và giúp nhà trị liệu hiểu tại sao một người thay thế cá biệt nào đó cảm nhận như vậy, hoặc quyết định những hành động của một người thay thế cá biệt. Họ cũng quyết định thông tin nào cần được chuyển đến những người thay thế nào hoặc đến với chủ nhà.

Người bảo vệ: những người bảo vệ bảo vệ hệ thống khỏi những đe doạ bên ngoài. Họ có thể ăn nói khó chịu, chiến đấu hoặc làm tất cả những gì cần thiết để giữ an toàn cho hệ thống. Họ thường sử dụng sự tức giận như một cơ chế phòng vệ. Họ đặc biệt bảo vệ người thay thế trẻ em.

Sự thay đổi giữa những người thay thế này là do một dạng stress hoặc cảm giác khó chịu. Những cảm giác này khiến cho một người thay thế, thường là người bảo vệ nổi lên. Stress đó có thể là những bình luận của người khác, việc nhìn thấy người lạm dụng, một cái động chạm bất ngờ, cuộc tranh cãi và giận dữ - thậm chí quan hệ tình dục. Sel (1997) cho rằng những cá nhân có hệ thống sinh thái của những người thay thế thường xuyên tranh đấu với nhau nhằm đoạt quyền kiểm soát những kênh ra bên ngoài. Người thay thế thành công nhất trong việc duy trì cân bằng cảm xúc là người có vẻ thích nghi nhất. Khi cá nhân chuyển tới một môi trường khác, sơ đồ nhận thức khác có thể thích nghi hơn và sẽ thay đổi người thay thế chủ đạo.

Mô hình nhận thức -  xã hội

Ngược lại, những nhà nhận thức - xã hội (Merskey, 1992; Spanos, 1994) cho rằng DID là một tập hợp những niềm tin và hành vi xây dựng bởi bản thân cá nhân đáp lại một stress, áp lực của nhà trị liệu và việc hợp pháp hoá của xã hội về cấu trúc “đa nhân cách”.

Họ cho rằng DID đã trở thành một cách hợp pháp để nhiều người có thể hiểu và thể hiện sự thất bại cũng như hẫng hụt của họ, cũng như là một sách lược nhằm lôi kéo người khác. Theo miêu tả này, những cá nhân được chẩn đoán là có DID học cách miêu tả/khắc hoạ chính mình như có nhiều “cái tôi”  và học cách tổ chức lại, dựng nên tiểu sử của chính mình để nó phù hợp với những gì họ hiểu là “đa nhân cách” . Điều đó nghĩa là họ chủ động dựng nên nhiều “cái tôi” đã dạng. Họ còn lí luận xa hơn rằng những nhà tâm lí trị liệu đã góp phần vào sự phát triển của rối nhiễu này bằng cách khuyến khích thân chủ xây dựng bản thân học theo cách này và bằng cách cung cấp những lí lẽ chính thống về những bản thể khác biệt mà thân chủ họ đóng vai.

Có lẽ bài viết của Spanos (1994) đã đề cập rất tốt đến hai cực của cuộc tranh luận này. Trong bài viết, ông ta đưa ra những phê bình nhận thức-xã hội về rối loạn, và sự phòng vệ của mô hình tâm thần học được đưa ra bởi Gleaves (1996). Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cuộc tranh luận của họ qua một số chi tiết.

Vấn đề về tính phổ biến

Mức độ phổ biến của DID đã thay đổi qua thời gian, tăng lên nhiều từ thập kỉ 1980. Spanos (1994) lí luận rằng nếu DID là một tình trạng xuất hiện tự nhiên, mức độ thay đổi là không thể có và nó thể hiện một sự gia tăng về sự xây dựng xã hội đối với rối loạn DID bởi nhà trị liệu và thân chủ. Spanos còn lưu ý tiếp rằng những nhà nghiên cứu thông cảm với DID đưa ra tỉ lệ chẩn đoán là đặc biệt cao. Theo kết quả khảo sát của Modestin (1992) đối với với các nhà tâm thần học Thuỵ Sĩ thì có khoảng 1% những trường hợp đến khám trong hệ thống tâm thần của họ đã được chẩn đoán là có DID. Ông ta cũng tìm thấy rằng 90% các nhà tâm thần học trong khảo sát của ông chưa từng gặp một ca DID nào trong khi có ba người thông báo rằng họ từng gặp trên 20 ca có rối loạn đó. Như vậy có 66% các ca được báo cáo bởi ít hơn 0,1% những nhà tâm thần học trong khảo sát. Modestin cho rằng những nhà lâm sàng đó hoặc có thể đã định dạng sai các triệu chứng như là bằng chứng của DID hoặc khuyến khích các thân chủ của họ xây dựng những biểu hiện đa dạng của rối loạn đó.

Gleaves đáp lại lí lẽ này bằng ý kiến cho rằng không có gì đáng ngạc nhiên nếu có những sự khác biệt giữa tỉ lệ quan sát ở các nhà lâm sàng khác nhau. Theo như Gleaves, đây có thể là kết quả do sự khác biệt về tỉ lệ chuyển viện; sự không sẵn sàng đưa ra một chẩn đoán về DID ở các nhà lâm sàng và một sự miễn cưỡng không hỏi những câu hỏi có thể dẫn đến chẩn đoán DID ở các nhà lâm sàng đó. Ông ta cũng giả định rằng sự tăng những báo cáo về DID có thể do DID là một phân loại chẩn đoán tương đối mới và vì vậy, trước đây có nhiều chẩn đoán sai về DID. Ngoài ra, việc tăng số ca DID còn do xã hội ngày càng nhận thức nhiều về tính phổ biến của DID, vấn đề lạm dụng trẻ em và càng quan tâm với trạng thái phân li. Cuối cùng, ông ta cho rằng yếu tố then chốt có thể đơn giản là xu hướng bớt hoài nghi về rối loạn DID ở các nhà trị liệu. Ông trích dẫn một số ca nghiên cứu liên quan đến nhiều nhà lâm sàng và bệnh nhân (Ross và cs. 1989), mà trong đó chẩn đoán DID còn xuất hiện đều hơn ở các nhà tâm thần học so với nghiên cứu của Modestin (1992). Ông cũng lưu ý rằng hiện nay có một vài phương pháp để đánh giá DID với độ tin cậy cao và đồng thuận lớn giữa những người kiểm tra (Steinberg và cs.1993). Độ chắc chắn của việc chẩn đoán sử dụng những công cụ được chuẩn hoá cho thấy chẩn đoán có thể tin cậy, không bị chi phối bởi niềm tin định kiến của nhà trị liệu.

Sự đa dạng được dạy

Phản bác chủ yếu nhất của Spanos đối với những nhà lâm sàng chẩn đoán DID là việc cho rằng họ đã dẫn thân chủ của họ một cách công khai hoặc ngầm ẩn đến chỗ báo cáo về sự hiện diện/tồn tại những người thay thế. Ông lưu ý rằng những người ủng hộ thuyết DID đã mô tả một bộ phận lớn các triệu chứng. Những triệu chứng này chỉ báo khả năng tồn tại của rối loạn và đánh giá thăm dò để khẳng định chẩn đoán. Triệu chứng bao gồm: trầm cảm, giai đoạn nhầm lẫn về thời gian, đau đầu và khả năng tập trung suy giảm. Merskey (1992) đưa ra ý kiến rằng quá trình dẫn dắt và ám thị thường xuyên được sử dụng, đến mức một số nhà trị liệu có tuyên bố mạnh mẽ làm thân chủ ngờ rằng họ đa nhân cách và cung cấp những cái tên cho các người thay thế của họ. Allison và Schawarz (1980) cho rằng thân chủ thường xuyên miễn cưỡng chấp nhận rằng họ là đa nhân cách và, trong một số hoàn cảnh, họ đã bị chủ động thuyết phục bởi nhà trị liệu.

Việc xuất hiện những người thay thế thường xảy ra trong quá trình tư vấn tâm lí sau khi sử dụng kĩ thuật thôi miên. Spanos (1994) cho rằng việc sử dụng những kĩ thuật thuyết phục hoặc ám thị khi đang trong trạng thái thôi miên có thể khiến một số cá nhân báo cáo về những người thay thế và sau đó cử xử như họ “đa nhân cách” . Vai trò của thôi miên trong việc tạo ra những người thay thế bị Gleaves nghi ngờ (1996). Ông lưu ý rằng tỉ lệ những bệnh nhân được chẩn đoán là DID sau khi thôi miên dao động trong khoảng từ 4 đến 27% qua các nghiên cứu. Ví dụ như Ross và Norton (1989) tìm thấy rằng không có sự khác biệt về biểu hiện lâm sàng, triệu chứng học hoặc số những người thay thế, giữa những người được và không được điều trị bằng thôi miên.

Rất khó tìm thấy bằng chứng về ám thị trong quá trình lâm sàng vì nội dung của chúng thường được giữ kín. Tuy nhiên, Spanos đã được đọc biên bản phỏng vấn phỏng vấn một nghi phạm giết người tên là Ken Bianchi, được Schwarz cho là mắc chứng DID (1981). Bianchi đã thú nhận tội giết người sự kiểm soát của nhân cách thay thế tên là Steve. Spanos cho rằng sự chỉ dẫn được chuyển đến cho Bianchi khiến anh ta nói rằng mình có một người thay thế khi họ cứ liên tục nhắc lại với anh ta rằng có một cá nhân khác bên trong và anh ta có thể chỉ ra người đó. Khi Spanos và cộng sự (1985) áp dụng quá trình này với những người tham gia vô tội dưới tác động của thôi miên trong một nghiên cứu thực nghiệm, hầu hết các người tham gia đều thể hiện những triệu chứng của DID bằng cách thừa nhận một tên khác, nhắc đến nhân cách nguyên thuỷ của họ qua ngôi thứ ba và có biểu hiện mất trí nhớ ở những nhân cách thay thế sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn thôi miên. Trong buổi làm việc thứ hai, những người tham gia vẫn tiếp tục biểu hiện sự khác biệt đáng kể và nhất quán giữa nhân cách ban đầu và nhân cách thứ hai trong nhiều trắc nghiệm tâm lí.

Gleaves (1996) đã đáp lại những phát hiện trên bằng cách lập luận rằng trong khi những phát hiện này đem đến những câu hỏi thú vị về khả năng và hoạt động của trí não con người, chúng không chỉ ra rằng DID nhất thiết được tạo ra trong quá trình trị liệu. Theo như Gleaves, những nghiên cứu tương đương này tạo ra hiện tượng bên ngoài có vẻ giống với DID. Những người tham gia không trải nghiệm một đặc điểm đã xác minh nào của DID, ví dụ như giai đoạn thời gian bị đánh mất, tan rã nhân cách hoặc mất tính thực tế hoặc nghe thấy tiếng nói, trong bất cứ nghiên cứu nào trên đây. Theo như Gleaves, việc chỉ một số người có thể tái tạo một số triệu chứng của DID không làm mất giá trị của khái niệm: một người có thể tái tạo triệu chứng trầm cảm, lo âu hoặc nhiều hơn nữa mà không trải qua thực tế của bệnh.

Những nghiên cứu về bệnh lí DID xuất hiện trước khi có những sự tiếp xúc với các nhà trị liệu được xem như là những bằng chứng phản biện sâu sắc về vai trò của nhà trị liệu trong sự phát triển một chẩn đoán DID. Ví dụ như Coons và cs. (1988) thông báo rằng chứng mất trí nhớ (một triệu chứng chính của DID) xuất hiện trong tất cả 50 trường hợp trong mẫu nghiên cứu của họ về DID trong thời điểm họ mới đến khám sức khoẻ tâm thần lần đầu. Gleaves (1996) cũng đưa ra bằng chứng về các triệu chứng khác, bao gồm: nhật kí với những chữ viết khác nhau hoặc những kí ức về kinh nghiệm phân li quay lại thời thơ ấu. Một số bằng chứng có thể được kiểm chứng bởi các thành viên gia đình và bạn bè.

Động cơ, sự hợp pháp hoá và DID

Panos (1994) cho rằng con người có thể tìm kiếm, lợi dụng chẩn đoán DID như một phương tiện để đạt được sự ủng hộ của nhà trị liệu và những người khác. Ông cho rằng ý tưởng là người đa nhân cách có thể đem lại cho một số người cách thức để tồn tại và giữ được thể diện trước một số vấn đề cá nhân cũng như là một phương tiện gây xúc động để thu hút sự quan tâm và chú ý từ những cá nhân có ý nghĩa với họ. Spanos cho rằng những người như vậy thường là những người đau khổ, không an toàn với một nỗ lực nhằm tìm kiếm sự quan tâm và ủng hộ của nhà trị liệu. Ngược lại, nhà trị liệu được đánh giá cao bởi thân chủ và sự ám thị của họ cũng được đánh giá rất nghiêm túc. Sự gặp gỡ giữa việc “tìm kiếm” những dấu hiệu của DID của nhà trị liệu và mong muốn tạo ấn tượng tốt với nhà trị liệu của thân chủ  có thể gây ra quá trình hình thành dần dần những phản ứng phù với với DID. Spanos (1994) không cho rằng những người có DID nhất thiết giả tạo sự đa nhân cách của họ. Đúng hơn là họ đã chấp nhận cách nhìn khác về bản thân họ, cách nhìn phù hợp với cách nhìn được nhà trị liệu truyền đến họ, và  từ đó họ áp dụng cũng như tin vào biểu hiện đa nhân cách ở chính mình.

Môi trường xã hội rộng lớn hơn có thể ủng hộ chẩn đoán của họ. Spanos (1994) cho rằng sự ủng hộ với DID đã gần như trở thành phong trào xã hội. Những người có DID và nhà trị liệu của họ thường xuyên tham gia vào các hội thảo, hội nghị và cả hai đều gây ảnh hưởng. Nhà trị liệu thường xuyên tham gia vào phương tiện truyền thông và giúp chính thống hoá việc ban hành đạo luật về đa nhân cách. Tất cả những điều này có thể củng cố sự hiện diện của “cái tôi” như một người với nhiều nhân cách thay thế. Gleaves (1996) cho rằng đấy không hoàn toàn là sự thật, và trị liệu không phải lúc nào cũng dễ dàng với những bệnh nhân DID. Nhiều người với các triệu chứng của DID trải nghiệm những phản ứng thù địch từ môi trường công việc và cộng đồng. Nhiều người được nói rằng họ đang giả tạo hoặc dối trá hoặc nhà trị liệu của họ là điên rồ.

Gleaves (1996) lưu ý rằng một số người ủng hộ cho rằng một số người có DID đang tìm kiếm sự quan tâm. Ngược lại, ông ta chỉ ra rằng rằng rất nhiều người thực ra giữ kín về bệnh của họ và che dấu rối loạn do sợ hãi bị gán mác là điên và thường hay có phong thái né tránh, làm cản trợ sự bộc lộ về việc bị lạm dụng của họ (Kluft, 1994). Suy đoán này được Fink và Golinkoff (1990) ủng hộ. Hai ông đã phát hiện bằng chứng cho thấy những người có DID ít có hành vi diễn kịch và họ ổn định về mặt cảm xúc và thường thông minh, họ cũng có xu hướng ám ảnh và hướng nội hơn một nhóm so sánh gồm những người không có rối loạn DID. Tuy nhiên, trong khi điều này ám chỉ rằng một số người muốn xuất hiện trước cộng đồng chung với góc độ là người có DID, song không có nghĩa là nó không chống lại lí lẽ cho rằng biểu hiện của đa nhân cách phát triển theo thời gian như một kết quả của tương tác nhà trị liệu -  thân chủ.

DID và lạm dụng trẻ em

Tỉ lệ cao những người có DID bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất trong thời thơ ấu (Ross và cộng sự, 1991) đã khiến một số nhà lí luận đưa ra giả thuyết rằng phân li là hậu quả của vịêc lạm dụng tình dục lặp lại như là một đặc tính của DID. Trả lời về vấn đề này, Spanos (1994) cho rằng tỉ lệ cao rõ ràng về mối liên quan giữa lạm dụng tình dục trẻ em và hiện tượng DID có thể vừa giả mạo và vừa là kết quả của niềm tin của nhà trị liệu và thân chủ về bản chất của hiện tượng. Ông đưa ra một số ý kiến sau:

Lạm dụng tình dục trẻ em tương đối phổ biến ở Hoa Kỳ và có tỉ lệ đặc biệt cao trong số những người bị lạm dụng tình dục tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt tâm thần. Vì vậy, tỉ lệ cao những người phát triển DID có thể là chỉ dẫn tỉ lệ có quá khứ bị lạm dung cao hơn là chỉ dẫn nguy cơ đối với DID.

Bởi vì một số nhà lâm sàng coi quá khứ bị lạm dụng tình dục là một dấu hiệu dương tính của DID, họ có thể thường đưa các bệnh nhân từng bị lạm dụng vào phỏng vấn thôi miên và những quá trình khác gây ra sự “đa nhân cách”.

Một số bệnh nhân có DID không nhớ từng bị lạm dụng cho đến khi tính đa nhân cách của họ được khám phá trong quá trình trị liệu. Bất cứ trí nhớ được khôi phục nào cũng cần được xử lí cẩn trọng.

Những nhà trị liệu có thể không tin những bệnh nhân DID cho rằng chưa từng bị lạm dụng và có thể thường xuyên thăm do với nỗ lực khám phá ra những kí ức tương tự. Khi bệnh nhân tin rằng họ có thể đã mơ màng, tính không chắc chắn của họ có thể thể hiện đối với họ như một bằng chứng là họ không sẵn lòng đối diện với sự thật về chuyện bị lạm dụng (Bliss, 1986).

Nhiều bệnh nhân có DID từng báo cáo không chỉ chuyện lạm dụng tình dục mà cho việc lạm dụng là nghi thức kéo dài. Những câu chuyện như vậy thường được xác định dựa trên một chuỗi các câu hỏi dẫn dắt trong trạng thái ám thị thôi miên, và không trường hợp nào đã được chứng minh.

Một số dữ liệu liên quan đến lạm dụng không tương thích với những dữ liệu mà trí nhớ gợi lại và mẫu hình điển hình của lạm dụng. Ross và cs. (1991) đã báo cáo tuổi ở lần lạm dụng sớm nhất ở nhóm bệnh nhân của họ. Một phần tư các báo cáo về việc từng bị lạm dụng là trước 3 tuổi và 10% là trước 1 tuổi. Những độ tuổi này là sớm hơn rất nhiều so với những ca lạm dụng đặc trưng (xem chương 10) và sớm hơn sự hình thành cơ sở thần kinh lưu giữ trí nhớ dài hạn.

Trong lần biện luận gần nhất về khái niệm DID, Gleaves và cs. (2001) coi rằng nó đạt được những tiêu chuẩn phân loại cho một chẩn đoán có giá trị và ý nghĩa, có thể còn hơn nhiều tiêu chẩn loạn thần được nhiều người chấp nhận. Quá trình chẩn đoán, bao gồm phỏng vấn và những bộ câu hỏi trắc nghiệm tâm lí có hiệu lực, có thể phát hiện ra rối loạn và phân biệt nó với các rối loạn khác một cách đáng tin cậy. Hầu hết những người có rối loạn từng trải nghiệm những triệu chứng phân li cơ bản (lẫn lỗn về bản thể, thay đổi bản thể, mất trí nhớ, tan rã nhân cách và phi thực tế), không giống với một số rối loạn khác như tâm thần phân liệt. Cuối cùng, nhãn mác chẩn đoán có lợi ích trông thấy: nó có thể dự đoán những loại vấn đề một cá nhân gặp phải trong tương lai. Những yếu tố mà họ đưa ra kết hợp với những luận điểm của họ nhằm phản bác mô hình nhận thức - xã hội, đã cung cấp những chứng cứ về có giá trị của rối loạn như một đại diện thực của những kinh nghiệm của cá nhân.

Cũng như kí ức được phục hồi, rất khó để phủ nhận sự tồn tại của hiện tượng DID. Cũng có thể nhìn nhận cách thức mà trong ít nhất một số hoàn cảnh, hành vi liên quan đến DID có thể nảy sinh trong quá trình trị liệu. Vì vậy, có thể DID nên được chấp nhận một cách thận trọng như với kí ức phục hồi. Có lẽ lời cuối cùng sẽ thuộc về một nhà trị liệu hoài nghi và cẩn trọng, người đã nói với tôi rằng:

Tôi tin. Một khi bạn đã nhìn thấy ai như vậy, thật khó để thấy làm thế nào họ xây dựng nên nó. Khi họ thay đổi từ nhân cách này sang nhân cách khác, sự khác biệt trong lời nói, phong thái và những điều họ kể với bạn... thật khác biệt và nhanh chóng -  và rất nhất quán theo thời gian. Thật khó để nghĩ rằng nó được dựng nên bởi một cá nhân.

Trị liệu rối loạn xác định phân li

Không có gì đáng ngạc nhiên khi cả Spanos (1994) và Gleaves (1996) bất đồng với nhau về cách điều trị DID. Spanos cho rằng mục đích của trị liệu là giúp thân chủ chấp nhận rằng những bản thể thay thế của họ là những nhân cách thật hơn là những ảo tưởng do bản thân tạo ra. Gleaves cho điều ngược lại mới là đúng. Ông lí luận rằng mục đích trung tâm của trị liệu nên là giúp đỡ những cá nhân hiểu rằng những nhân cách thay thế trong thực tế là do tự tạo ra và không thuyết phục người bệnh rằng đó là những người thật. Ông ta cho rằng nhà trị liệu làm việc với những người có DID cần nhấn mạnh bản chất nền tảng của rối loạn là khó khăn trong việc hoà nhập những khía cạnh đa dạng của nhân cách chứ không phải sự  dồi dào về nhân cách (Fraser, 1992).

Thậm chí trong số những nhà trị liệu chấp nhận thực tiễn về đa nhân cách, mục đích trị liệu cũng rất khác nhau. Một số (Spiegel, 1993) đưa ra ý kiến rằng mục đích của trị liệu là thúc đẩy cá nhân hoà nhập. Mục đích này có thể đạt được bởi:

Gợi lại những kí ức bị kiềm nén.

Hoá giải tổn thương những kí ức đó để việc tái hiện không làm những bản thể khác quay lại.

Tích hợp những bản thế thay thế và nhân cách nguyên thuỷ.

Kĩ thuật như điều trị tâm lí động thái và thôi miên đã được sử dụng để giúp khôi phục kí ức về quá khứ (Kluft, 1999). Những cách tiếp cận này đã được sử dụng thận trọng bởi vì cá nhân có thể trở lại với một nhân cách thay thế khác khi đối mặt với kí ức sang chấn. Thêm vào đó, một số nhân cách thay thế có thể đóng vai trò “bảo vệ” và cố gắng để bảo vệ nhân cách nguyên thuỷ khỏi việc chịu đựng những nỗi đau khi gợi lại kinh nghiệm gây sang chấn bằng cách như trở nên hung dữ và tự huỷ hoại (xem Kelli 1993).

Một khi kí ức đã được gợi lại hay được phục hồi nó có thể được hoá giải tổn thương bằng cách sử dụng những kĩ thuật đối mặt tương tự với những kĩ thuật sử dụng trong trị liệu PTSD. Do phản ứng của một người với DID là né tránh tái hiện kí ức, nên kĩ thuật đối mặt là khá khó khăn và bản chất tổn thương của kí ức có thể được hạn chế vào bất cứ lúc nào. Những người biện hộ cho EMDR cho rằng nó có thể tạo ra một dạng can thiệp hữu dụng khi được sử dụng kết hợp với kĩ thuật thư giãn vì kĩ thuật này được cho là giúp con người gợi lại kí ức của họ mà không kèm những hiệu ứng cảm xúc mạnh mẽ (nhưng hãy xem kết quả báo trước trong mối quan hệ với PTSD).

Đối với hầu hết các nhà trị liệu, mục tiêu hàng đầu của trị liệu là hoà hợp những nhân cách thay thế khác nhau vào một nhân cách cố kết, một quá trình được gọi là hợp nhất. Trong giai đoạn này, một người nhận thức về tất cả hành vi và suy nghĩ của họ và chấp nhận chúng là thuộc về chính họ. Oke và Kanigsberg (1991) sử dụng kết hợp trò chơi và hình tượng có dẫn dắt, huấn luyện kĩ năng sống, kĩ thuật phóng chiếu và trị liệu nhóm để đem đến nhận thức và thông hiểu về những cái tôi khác và qua quá trình này dần dần, sự kết dính giữa các bản thể thay thế đã được hình thành. Rất tiếc là hiệu quả của quá trình này và những dạng can thiệp tương tự chỉ giới hạn ở mô tả can thiệp mà không có số liệu hoặc thông báo ca ( một số nhà trị liệu thích thông báo những thất bại của họ một cách rộng rãi còn hầu hết các tạp chí lại không thích đăng những “thất bại” ). Do vậy hiệu quả của nó vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Một điểm cần đặc biệt lưu ý, xuất phát từ chính những người có DID. Nhiều tiểu nhân cách chống lại sự hợp nhất theo mục đích điều trị vì họ nhìn nhận việc hợp nhất như là một kiểu chết (Spiegel, 1999). ủng hộ cho lập trường này, Rossel (1998) cho rằng trong một thế giới hậu hiện đại không thống nhất, có rất ít lợi ích trong nỗ lực đạt được hợp nhất. Thực tế, cá nhân nên cởi mở với những kinh nghiệm thay đổi các nhân cách và nên nhìn nhận những kinh nghiệm này như là tích cực và thoải mái chứ không phải huỷ hoại và tiêu cực.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hành vi dị thường

Những cá nhân hưng cảm đi lại rất nhanh, nói nhanh, to; những đoạn đối thoại của họ thường có nhiều lời bông đùa và cố gắng tỏ ra tài giỏi. Họ thích những gì chói lọi, sặc sỡ.

Chấn thương sọ não tâm lý dị thường

Đối với những người sống sót và hồi phục ý thức, sự hồi phục diễn ra theo cách thức khá điển hình. ở giai đoạn đầu tiên là sự lú lẫn cấp tính và rối loạn định hướng.

Điều trị tâm thần phân liệt

Việc sử dụng thuốc chống tâm thần không phải là không có vấn đề. Chúng có những tác dụng phụ khác nhau và thường dẫn đến việc những người dùng thuốc luôn tìm cách giảm liều hoặc bỏ thuốc.

Nguyên nhân của tâm thần phân liệt

Nghiên cứu về di truyền mới đây của Tienari và cs. (2000) đã so sánh tỉ lệ tâm thần phân liệt ở những người con nuôi của mẹ được chẩn đoán tâm thần phân liệt với con nuôi của những bà mẹ không bị tâm thần phân liệt.

Bản chất và nguyên nhân trầm cảm

Những người bị trầm cảm được đặc trưng bởi các vấn đề về cảm xúc, động cơ, sinh lí và nhận thức. Họ cảm thấy bản thân kém cỏi và không tìm được thích thú từ những hoạt động thường diễn ra.

Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt của DSM

Chỉ cần 1 trong các triệu chứng đó khi có: hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh bình phẩm hành vi hay ý nghĩ của cá nhân hoặc ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau.

Trị liệu trầm cảm

Hai nhóm thuốc nhằm làm tăng nồng độ  của serotonin bằng cách ức chế tái hấp thu nó ở tận cùng trước xi nap: thuốc 3 vòng (ví dụ, imipramine, amitriptyline) và SSRIs (ví dụ, fluoxetine, sertraline).

Sử dụng heroin tâm lý dị thường

Hầu hết những can thiệp được mô tả dưới đây theo sau một giai đoạn cai. Liều methadone được giảm một cách từ từ sau một khoảng thời gian là vài tuần để giảm thiểu các triệu chứng cai.

Bản chất của tâm thần phân liệt

Cho đến nay người ta vẫn tiếp tục tranh luận về bản chất của tâm thần phân liệt. Tuy nhiên hầu hết đều nhất trí rằng nó bao gồm những rối loạn liên quan đến tư duy và tri giác.

Trị liệu tâm thần phân liệt

Trị liệu sốc điện (ECT) là cho dòng điện phóng qua não trong một khoảng thời gian ngắn nhằm mục đích nhằm gây ra các cơn co giật kiểu động kinh, giúp cải thiện trạng thái tâm thần.

Rối loạn tăng động giảm chú ý

Dopamin là chất DTTK được xem là có tham gia vào ADHD. Các cứ liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu phát hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệu chứng của ADHD giảm.

Rối loạn ám ảnh cưỡng bức hành vi dị thường

Những ý nghĩ, sự thôi thúc hay những hình ảnh lặp đi lặp lại và dai dẳng mà chủ thể phải trải nghiệm như một sự chịu đựng và vô lí, khiến cho chủ thể lo lắng và khổ sở một cách đáng kể.

Chán ăn và cuồng ăn tâm lí hành vi dị thường

Klump và cs. (2001) ước tính 74% các hành vi chán ăn khác nhau của chứng chán ăn có thể quy cho yếu tố gen, sau khi nghiên cứu sinh đôi trong đó họ tìm thấy 50% cặp sinh đôi cùng trứng và không có cặp sinh đôi khác trứng nào cùng bị chứng chán ăn.

Loạn dục cải trang hành vi dị thường

Trong một nghiên cứu điều tra trên 1000 người đàn ông trưởng thành bị loạn dục cải trang, Docter và Prince (1997) cho thấy 40% luôn luôn có khoái cảm tình dục hoặc cực khoái khi họ mặc đồ phụ nữ.

Dự phòng những vấn đề sức khoẻ tâm thần

Bỏ qua khía cạnh chuyên môn của từ ngữ, điều này có nghĩa rằng tăng cường sức khoẻ không chỉ tiến hành với các cá nhân mà cần phải tiến hành ở mức độ xã hội để khuyến khích sự cải thiện về mặt sức khoẻ.

Mô hình gia đình các rối loạn sức khoẻ tâm thần

Trị liệu hệ thống liên quan đến toàn bộ gia đình, và đôi khi cả gia đình mở rộng, với thông thường hai nhà trị liệu hoặc nhiều hơn. Gia đình có thể không được biết rõ về những nhà trị liệu mà chỉ biết rằng họ có mặt.

Các rối loạn nhân cách hành vi dị thường

Mức độ phân bố trong dân cư của những rối loạn khác nhau như sau: 0,4% dân số đối với rối loạn nhân cách paranoid và ái kỉ, 4,6% đối với rối loạn nhân cách ranh giới (Davidson 2000).

Trị liệu lo âu

Benzodiazepine tốt nhất - Valium mới được đưa ra thị trường vài năm. Vào giữa những năm 1980, các benzodiazepine là thuốc hướng thần được chỉ định rộng rãi nhất.

Rối loạn lo âu lan toả hành vi dị thường

Nỗi lo của những người bị GAD thường liên quan đến những vấn đề của đời sống thường nhật hoặc những vấn đề không mấy quan trọng mà họ có thể nhận thức được song rất khó có thể kiểm soát nó.

Bệnh Alzheimer tâm lý dị thường

Để chẩn đoán là AD, các thiếu hụt này phải gây ra những tổn thiệt đáng kể về chức năng nghề nghiệp hoặc xã hội và tạo ra sự khác biệt rõ nét so với trước đây.

Loạn dục với trẻ em

Những hành vi loạn dục với trẻ em cũng rất khác nhau. Một số người chỉ nhìn mà không đụng chạm vào trẻ. Một số khác lại thích động chạm hoặc cởi quần áo của chúng.

Rối loạn stress sau sang chấn

Những sự kiện gây ra PTSD rất đa dạng. Nó có thể bao gồm những trải nghiệm chiến tranh, bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất thời thơ ấu, cưỡng dâm, thiên tai hoặc những thảm họa do công nghệ.

Bằng chứng và phục hồi trí nhớ

Trong cuộc tranh luận về tính chân thực của trí nhớ khôi phục, mỗi bên đều đưa ra bằng chứng để khẳng định ý kiến của mình đồng thời để nghi ngờ những ý kiến đối lập.

Đánh bạc bệnh lí tâm lý dị thường

Một trong những yếu tố được xem như có liên quan tới đánh bạc là cái “thú” của thắng bạc hoặc gần thắng bạc, nó cũng tương đương với việc đạt được cái thú đó trong nghiện ma túy.

Giải thích về trị liệu sinh học hành vi dị thường

Trị liệu thuốc được dùng để thay đổi mức độ các chất dẫn truyền thần kinh và cảm xúc, hành vi. Hai dạng can thiệp vật lí được sử dụng để điều trị những vấn đề sức khỏe tâm thần: sốc điện và phẫu thuật tâm thần.

Xem theo danh mục