Dự phòng những vấn đề sức khoẻ tâm thần

Ngày: 11 - 8 - 2013

Bỏ qua khía cạnh chuyên môn của từ ngữ, điều này có nghĩa rằng tăng cường sức khoẻ không chỉ tiến hành với các cá nhân mà cần phải tiến hành ở mức độ xã hội để khuyến khích sự cải thiện về mặt sức khoẻ.


Tăng cường sức khoẻ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1996), tăng cường sức khoẻ bao gồm rất nhiều sự can thiệp đa dạng phức tạp ở những mức độ khác nhau không chỉ nhằm mục đích ngăn chặn bệnh tật mà còn khuyến khích, thúc đẩy sức khoẻ tích cực. Quan điểm này bao gồm:

Có một cách tiếp cận đúng đắn về sức khoẻ.

Tôn trọng những nền văn hoá và tín ngưỡng khác nhau.

Tăng cường sức khoẻ tích cực cũng như phòng ngừa bệnh tật.

Làm việc ở mức độ hệ thống chứ không chỉ cá nhân.

Sử dụng những phương pháp tham gia.

Bỏ qua khía cạnh chuyên môn của từ ngữ, điều này có nghĩa rằng tăng cường sức khoẻ không chỉ tiến hành với các cá nhân mà cần phải tiến hành ở mức độ xã hội để khuyến khích sự cải thiện về mặt sức khoẻ. Làm việc với cộng đồng để đáp ứng được những nhu cầu sức khoẻ cụ thể và cố gắng để cải thiện sức khoẻ cũng như chất lượng sống, chứ không chỉ để phòng bệnh. Những chương trình tăng cường sức khoẻ có thể được thực hiện ở mức độ luật pháp, với cộng đồng, với các nhóm và các cá nhân bên trong cộng đồng. Nó có thể được điều hành bởi nhiều người, trong đó một số những người chuyên làm việc trong lĩnh vực tăng cường sức khoẻ còn nhiều người khác thì không. Một số ví dụ về phạm vi hoạt động của tăng cường sức khoẻ nhằm hạn chế tối đa những vấn đề do nghiện rượu được nêu ra.

Mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thần kém và sự không công bằng kinh tế- xã  hội đã khiến một số nhà bình luận cho rằng chiến lược can thiệp có sức thuyết phục  nhất là các chiến lược can thiệp nhằm làm giảm sự không đồng đều về sức khoẻ phải được thực hiên trên cả 3 bình diện: xã hội, kinh tế và chính trị. Từ góc độ kinh tế, những chiến lược nên bao gồm các biện pháp để giảm việc thất nghiệp đến mức thấp nhất có thể. Mô hình kinh tế của người Thuỵ điển đã được chứng minh là có hiệu quả bao gồm: việc duy trì mức độ cao người có việc làm, trao đổi chỗ làm, đào tạo chất lượng cao những kĩ năng mà thị trường lao động, khuyến khích các nhà sử dụng lao động tuyển dụng người và biện pháp cuối cùng là quyền được lao động công cộng tạm thời. Davey Smith và cs. (1999) đã chỉ ra một loạt các biện pháp  kinh tế khác nhau. Họ cho rằng quy định mức thu nhập cơ bản ‘đủ khả năng chi trả là một cách để chấm dứt nghèo đói. Thêm vào đó, họ đề nghị rằng phải tăng tất cả các các loại trợ cấp đối với các gia đình có con nhỏ đang phải nhận hỗ trợ thu nhập để tránh việc thế hệ con cái họ gặp phải bất lợi ngay từ lúc mới sinh ra. Họ cũng lưu ý rằng một phần tư trẻ em được sinh ra từ những bà mẹ dưới 25 tuổi và rằng chính phủ cần bảo đảm cho những người dưới độ tuổi đó nhận được trợ cấp tương đương với những người lớn tuổi hơn. Việc này đúng là ngoài khả năng hiện tại để đánh giá điểm mạnh và yếu của các hệ thống kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, những điều này lại rất có ý nghĩa đối với sức khỏe tâm thần và vì vậy cần có một hành lang pháp lí cho những người tham gia vào lĩnh vực tăng cường sức khoẻ và sức khoẻ công cộng.

Can thiệp trị liệu

Hầu hết những can thiệp cải thiện sức khoẻ chỉ sử dụng những cách tiếp cận hạn hẹp hơn là những tiếp cận cơ bản. Can thiệp chủ yếu vẫn là trị liệu, mặc dù được tiến hành bên ngoài những khoa ngoại trú truyền thống hoặc trong nhóm dân cư mới. Sự phát triển mang tính đổi mới là làm việc với những người có nguy cơ gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, phát hiện sớm và trị liệu những vấn đề như vậy, tham vấn dự phòng và dịch vụ trị liệu trong cộng đồng, tại các phòng khám đa khoa hoặc môi trường làm việc. Những can thiệp khác nhằm ngăn ngừa sự tái phát ở những người đã được xác định là có vấn đề về sức khỏe tâm thần và những người đó được trị liệu ở các dịch vụ chăm sóc y tế (Secker, 1998). Nói một cách khác, việc phòng ngừa cố gắng để tập trung vào những dịch vụ sức khoẻ xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, hướng đến cá nhân và chấm dứt chuỗi can thiệp.

Sử dụng các phương tiện truyền thông

Một ngoại lệ quan trọng đối với tiếp cận lấy cá nhân làm tiêu điểm là những chương trình trên các phương tiện truyền thông được sử dụng để giáo dục và tác động đến những người có hoặc dễ tổn thương với những vấn đề sức khỏe tâm thần. Cứ bốn người thì một người phải trải qua những vấn đề về sức khỏe tâm thần trong cuộc đời họ, trong số đó có rất ít người được sự trợ giúp chuyên môn (Jerkins và cs. 1998). Hệ thống truyền thông đa dạng có thể cung cấp phương tiện để tiếp cận những cá nhân như thế. Barker và cs. (1993) đã đưa ra một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này. Họ ghi lại kết quả tác động của một seri gồm 7 chương trình 10 phút về những chủ đề sức khỏe tâm thần khác nhau. Một cuộc trưng cầu ý kiến khán giả cho thấy việc xem seri đó đem lại những thay đổi về mặt thái độ chứ chưa phải là về hành vi: có thể như dự đoán, đó là do sự ngắn gọn của mỗi chủ đề. Bennett và cs. (1991) đã khẳng định được hiệu quả của một seri truyền hình lớn hơn “Hướng dẫn sử dụng rượu có lợi”, nhằm vào việc uống rượu. Chương trình được thiết kế để thu hút những người uống rượu trẻ tuổi. Những nhân vật trong giới truyền thông cũng như những chuyên gia đã phân tích cho người xem về ý nghĩa của uống rượu hợp lí và cung cấp những mô hình uống rượu hợp lí. Ví dụ như Rowan Atkinson đã cung cấp những bảng nhắc nhở rất hài hước về giới hạn của uống rượu hợp lí trong mỗi tuần. Một trong những người trình bày thậm chí đã giảm lượng tiêu thụ của mình sau khoá học. Những điều tra trước và sau khoá học cho thấy hiểu biết chung của toàn dân về uống rượu hợp lí. Điều này đã kéo theo một sự biến chuyển nhẹ về thái độ của những người từ uống rượu nhiều sang uống ít hơn.

Giáo dục công cộng

Một cách tiếp cận tăng cường sức khoẻ khác là cung cấp một hình thức can thiệp tâm lí tương đối đơn giản, mở rộng với tất cả mọi người: thường là dưới dạng những lớp học quản trị stress. Brown và cs. (2000) đã đánh giá một chương trình như vậy. Họ mở một đợt tám hội thảo miễn phí kéo dài một hoặc nửa ngày về quản trị stress trong một trung tâm giải trí, theo cuộc vận động quảng cáo như là một phần của chương trình “Birmingham khoẻ 2000”. Những lớp như vậy dạy những người tham gia các kĩ năng thư giãn và một số kĩ năng khác để làm chủ stress. Các nhóm so sánh của họ bao gồm những người tham gia một chương trình cả ngày tập trung vào việc ăn uống khoa học, nhận biết về rượu và những bài tập thể chất và một nhóm người đang trong danh sách đợi tham dự những chương trình hội thảo tương lai. Chương trình mang tính phổ thông và hấp dẫn cả những người đã từng gặp chuyên gia sức khoẻ, thường là bác sĩ đa khoa của họ, về những vấn đề liên quan đến stress và những người chưa bao giờ gặp chuyên gia. Sự can thiệp cũng được chứng minh là thành công. So sánh mức độ khởi đầu, những người tham gia vào hội thảo cả ngày có đã giảm được stress và lo âu rõ rệt nhiều hơn so với nhóm chứng sau ba tháng tham gia hội thảo. Một kết quả ấn tượng, can thiệp tương đối gọn nhẹ và nhiều người có thể tham gia.

Tổ chức lao động cũng có thể đưa ra một hệ thống giúp con người học được các kĩ năng quản trị stress. Một cuộc điều tra (Fielding và Piserchia, 1989) cho thấy rằng khoảng một phần tư các công ti lớn ở Mỹ tổ chức các lớp học như vậy đã được chứng minh là có hiệu quả, mặc dù Oldenburg và Harris (1996) lưu ý rằng chúng chỉ thu hút khoảng từ 10% đến 40% lực lượng lao động và rất nhiều người chỉ đến tham dự vài buổi để đạt được một mục đích nào đó. Ngoài ra rất nhiều người có chứng lo âu đã không tham dự.

Xây dựng và tiến hành những loại hội thảo này, mặc dù có lợi cho người tham dự, song tương đối tốn kém và mất thời gian, nên một số nhóm đã bắt đầu khai thác những cách tiếp cận khác, hiệu quả hơn về mặt chi phí. Một cách tiếp cận thú vị là cung cấp những khoá đào tạo quản trị stress và các trị liệu tâm lí qua mạng. Chỉ bằng việc tìm kiếm nhanh trên internet, ta có thể thấy hàng ngàn nhà trị liệu độc lập có dịch vụ này. Những dịch vụ đó nhằm mục đích trị liệu hơn là phòng ngừa. Tuy nhiên một dự án dự phòng có phạm vi lớn hơn cũng đang được xây dựng. Khi quyển sách này đang được viết thì một chương trình quản trị stress tương tác qua mạng đang được Unilever xây dựng. Người muốn có thể tham dự chương trình qua những văn phòng tư vấn sức khoẻ hoặc qua mạng toàn Châu Âu. Chương trình bao gồm tập luyện và các lời khuyên về ăn kiêng nhằm giảm stress, hạn chế những hành vi làm tăng nguy cơ bệnh tim. Matano và cs. (2000) đã báo cáo về một cách tiếp cận có mục đích rõ ràng hơn. Họ đã lập ra một trang web hướng dẫn cách giảm mức uống rượu cho một mạng làm việc lớn. Cũng như với dự án của Unilever, mức độ hữu dụng và hiệu quả vẫn chưa được đánh giá song những tiềm năng của cách can thiệp này là rất ấn tượng.

Can thiệp tổ chức

Cho đến nay,các tiếp cận dự phòng ngừa vẫn đang tập trung vào giúp con người giải quyết một cách hiệu quả hơn stress trong cuộc sống của họ. ở cấp độ can thiệp cao hơn có thể làm giảm những nguyên nhân gây stress. Trong khi còn đang khó thực hiện những thay đổi xã hội với diện rộng để cải thiện sức khoẻ tâm thì vì bị bó buộc bởi các yếu tố kinh tế và chính trị, một nơi có thể thực hiện tốt hơn, đó là nơi làm việc.

Công trình của Maes và cs. (1998) được xem một trong số ít những dự án quản trị stress mạng lưới tại nơi làm việc đã sử dụng tiếp cận hệ thống để làm giảm stress. Những can thiệp này tập trung vào thay đổi/ sửa chữa những khía cạnh quan trọng/ then chốt của môi trường làm việc nhằm tăng cường sức khoẻ tinh thần qua lực lượng lao động của một nhà sản xuất công nghiệp lớn. Can thiệp của họ đã kéo theo những nghiên cứu nhằm xác định điều kiện lao động mà có thể củng cố cả tình trạng sức khoẻ của công nhân và nâng cao hiêu quả sản xuất. Các cá nhân làm việc trong khả năng của họ, tránh việc hay thay đổi công việc trong khoảng thời gian ngắn, có sự kiểm tra tổ chức lao động và có sự giao tiếp xã hội phù hợp trong hoàn cảnh lao động. Với những ý tưởng đó, trong khuôn khổ của sản xuất, họ cố gắng thay đổi bản chất công việc của từng công nhân nhằm đem lại nó lại gần ý tưởng. Thêm vào đó, họ đào tạo cho những người quản lí các kĩ năng giao tiếp và lãnh đạo, các phương pháp nhận biết, phòng ngừa và giảm stress cá nhân trong công việc. Mặc dù trong chương trình nghiên cứu không có phần đo lường stress song những những thay đổi có được đã làm tăng chất lượng công việc, giảm tỉ lệ nghỉ việc. Cả hai điều này đều là những chỉ báo rằng sức khoẻ công nhân vẫn tốt trong lao động.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hành vi dị thường

Những cá nhân hưng cảm đi lại rất nhanh, nói nhanh, to; những đoạn đối thoại của họ thường có nhiều lời bông đùa và cố gắng tỏ ra tài giỏi. Họ thích những gì chói lọi, sặc sỡ.

Chấn thương sọ não tâm lý dị thường

Đối với những người sống sót và hồi phục ý thức, sự hồi phục diễn ra theo cách thức khá điển hình. ở giai đoạn đầu tiên là sự lú lẫn cấp tính và rối loạn định hướng.

Điều trị tâm thần phân liệt

Việc sử dụng thuốc chống tâm thần không phải là không có vấn đề. Chúng có những tác dụng phụ khác nhau và thường dẫn đến việc những người dùng thuốc luôn tìm cách giảm liều hoặc bỏ thuốc.

Nguyên nhân của tâm thần phân liệt

Nghiên cứu về di truyền mới đây của Tienari và cs. (2000) đã so sánh tỉ lệ tâm thần phân liệt ở những người con nuôi của mẹ được chẩn đoán tâm thần phân liệt với con nuôi của những bà mẹ không bị tâm thần phân liệt.

Bản chất và nguyên nhân trầm cảm

Những người bị trầm cảm được đặc trưng bởi các vấn đề về cảm xúc, động cơ, sinh lí và nhận thức. Họ cảm thấy bản thân kém cỏi và không tìm được thích thú từ những hoạt động thường diễn ra.

Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt của DSM

Chỉ cần 1 trong các triệu chứng đó khi có: hoang tưởng kỳ quái hoặc ảo thanh bình phẩm hành vi hay ý nghĩ của cá nhân hoặc ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau.

Trị liệu trầm cảm

Hai nhóm thuốc nhằm làm tăng nồng độ  của serotonin bằng cách ức chế tái hấp thu nó ở tận cùng trước xi nap: thuốc 3 vòng (ví dụ, imipramine, amitriptyline) và SSRIs (ví dụ, fluoxetine, sertraline).

Sử dụng heroin tâm lý dị thường

Hầu hết những can thiệp được mô tả dưới đây theo sau một giai đoạn cai. Liều methadone được giảm một cách từ từ sau một khoảng thời gian là vài tuần để giảm thiểu các triệu chứng cai.

Bản chất của tâm thần phân liệt

Cho đến nay người ta vẫn tiếp tục tranh luận về bản chất của tâm thần phân liệt. Tuy nhiên hầu hết đều nhất trí rằng nó bao gồm những rối loạn liên quan đến tư duy và tri giác.

Trị liệu tâm thần phân liệt

Trị liệu sốc điện (ECT) là cho dòng điện phóng qua não trong một khoảng thời gian ngắn nhằm mục đích nhằm gây ra các cơn co giật kiểu động kinh, giúp cải thiện trạng thái tâm thần.

Rối loạn tăng động giảm chú ý

Dopamin là chất DTTK được xem là có tham gia vào ADHD. Các cứ liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu phát hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệu chứng của ADHD giảm.

Rối loạn ám ảnh cưỡng bức hành vi dị thường

Những ý nghĩ, sự thôi thúc hay những hình ảnh lặp đi lặp lại và dai dẳng mà chủ thể phải trải nghiệm như một sự chịu đựng và vô lí, khiến cho chủ thể lo lắng và khổ sở một cách đáng kể.

Chán ăn và cuồng ăn tâm lí hành vi dị thường

Klump và cs. (2001) ước tính 74% các hành vi chán ăn khác nhau của chứng chán ăn có thể quy cho yếu tố gen, sau khi nghiên cứu sinh đôi trong đó họ tìm thấy 50% cặp sinh đôi cùng trứng và không có cặp sinh đôi khác trứng nào cùng bị chứng chán ăn.

Loạn dục cải trang hành vi dị thường

Trong một nghiên cứu điều tra trên 1000 người đàn ông trưởng thành bị loạn dục cải trang, Docter và Prince (1997) cho thấy 40% luôn luôn có khoái cảm tình dục hoặc cực khoái khi họ mặc đồ phụ nữ.

Dự phòng những vấn đề sức khoẻ tâm thần

Bỏ qua khía cạnh chuyên môn của từ ngữ, điều này có nghĩa rằng tăng cường sức khoẻ không chỉ tiến hành với các cá nhân mà cần phải tiến hành ở mức độ xã hội để khuyến khích sự cải thiện về mặt sức khoẻ.

Mô hình gia đình các rối loạn sức khoẻ tâm thần

Trị liệu hệ thống liên quan đến toàn bộ gia đình, và đôi khi cả gia đình mở rộng, với thông thường hai nhà trị liệu hoặc nhiều hơn. Gia đình có thể không được biết rõ về những nhà trị liệu mà chỉ biết rằng họ có mặt.

Các rối loạn nhân cách hành vi dị thường

Mức độ phân bố trong dân cư của những rối loạn khác nhau như sau: 0,4% dân số đối với rối loạn nhân cách paranoid và ái kỉ, 4,6% đối với rối loạn nhân cách ranh giới (Davidson 2000).

Trị liệu lo âu

Benzodiazepine tốt nhất - Valium mới được đưa ra thị trường vài năm. Vào giữa những năm 1980, các benzodiazepine là thuốc hướng thần được chỉ định rộng rãi nhất.

Rối loạn lo âu lan toả hành vi dị thường

Nỗi lo của những người bị GAD thường liên quan đến những vấn đề của đời sống thường nhật hoặc những vấn đề không mấy quan trọng mà họ có thể nhận thức được song rất khó có thể kiểm soát nó.

Bệnh Alzheimer tâm lý dị thường

Để chẩn đoán là AD, các thiếu hụt này phải gây ra những tổn thiệt đáng kể về chức năng nghề nghiệp hoặc xã hội và tạo ra sự khác biệt rõ nét so với trước đây.

Loạn dục với trẻ em

Những hành vi loạn dục với trẻ em cũng rất khác nhau. Một số người chỉ nhìn mà không đụng chạm vào trẻ. Một số khác lại thích động chạm hoặc cởi quần áo của chúng.

Rối loạn stress sau sang chấn

Những sự kiện gây ra PTSD rất đa dạng. Nó có thể bao gồm những trải nghiệm chiến tranh, bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất thời thơ ấu, cưỡng dâm, thiên tai hoặc những thảm họa do công nghệ.

Bằng chứng và phục hồi trí nhớ

Trong cuộc tranh luận về tính chân thực của trí nhớ khôi phục, mỗi bên đều đưa ra bằng chứng để khẳng định ý kiến của mình đồng thời để nghi ngờ những ý kiến đối lập.

Đánh bạc bệnh lí tâm lý dị thường

Một trong những yếu tố được xem như có liên quan tới đánh bạc là cái “thú” của thắng bạc hoặc gần thắng bạc, nó cũng tương đương với việc đạt được cái thú đó trong nghiện ma túy.

Giải thích về trị liệu sinh học hành vi dị thường

Trị liệu thuốc được dùng để thay đổi mức độ các chất dẫn truyền thần kinh và cảm xúc, hành vi. Hai dạng can thiệp vật lí được sử dụng để điều trị những vấn đề sức khỏe tâm thần: sốc điện và phẫu thuật tâm thần.

Xem theo danh mục