Xét nghiệm hoá sinh rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch

Ngày: 29 - 7 - 2013

Rối loạn lipid máu nói chung và các rối loạn lipoprotein là yếu tố nguy hại lớn liên quan tới sự phát triển bệnh tim mạch (như xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim).


Trước kia các xét nghiệm lipid máu thường làm là định lượng lipid toàn phần, phospholipid, cholesterol (toàn phần và este). Hiện nay, xét nghiệm lipid TP và phospholipid ít được làm, lâm sàng thường quan tâm nhiều hơn là xét nghiệm cholesterol, triglycerid, các lipoprotein và  apoprotein.

Các xét nghiệm về lipoprotein thường làm để đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu gồm: LDL (lipoprotein có tỷ trọng thấp) và HDL (lipoprotein có tỷ trọng cao).

Các xét nghiệm hoá sinh về rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu nói chung và các rối loạn lipoprotein là yếu tố nguy hại lớn liên quan tới sự phát triển bệnh tim mạch (như xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim).

Để phát hiện rối loạn lipid máu cần làm các xét nghiệm sau:

Cholesterol toàn phần.

Triglycerid.

LDL-C.

HDL-C.

Apo AI.

Apo B.

Nếu điều kiện không cho phép thì chỉ cần làm 3 xét nghiệm sau đây: Cholesterol, triglycerid, HDL-C.

Không bị rối loạn lipid máu

Cholesterol < 5,2 mmol/l.

Triglycerid < 2,3 mmol/l.

Có rối loạn lipid máu

Cholesterol > 5,2 mmol/l và Triglycerid >2,3  mmol/l; hoặc Cholesterol 5,2 - 6,7 mmol/l và HDL-C  < 0,9 mmol/l.

Một bệnh rối loạn chuyển hóa lipid điển hình là bệnh xơ vữa động mạch.

Các xét nghiệm về rối loạn lipid máu thường làm

Cholesterol toàn phần huyết tương:

Bình thường: Cholesterol TP = 3,9 - 5,2 mmol/l.

Cholesterol toàn phần tăng trong:

Bệnh tăng cholesterol máu.

Tăng lipoprotein máu.

Tắc mật (sỏi mật, ung thư đường mật, xơ gan-mật, tắc mật,..).

Bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen (bệnh Von Gierke).

Hội chứng thận hư (do viêm cầu thận mạn, tắc tĩnh mạch thận, bệnh hệ thống, thoái hóa dạng bột,…).

Bệnh lý tuyến tụy (đái đường, viêm tụy mạn,…).

Phụ nữ mang thai.

Tác dụng phụ của thuốc (các loại steroid).

Cholesterol toàn phần giảm trong:

Huỷ hoại tế bào gan (do thuốc, hóa chất, viêm gan,…).

Hội chứng cường giáp.

Suy dinh dưỡng (suy kiệt, các bệnh ác tính giai đoạn cuối,…).

Thiếu máu mạn tính.

Điều trị bằng corticoid và ACTH.

Giảm β-lipoprotein.

Bệnh Tangier.

Triglycerid huyết tương:

Bình thường: TG < 2,3 mmol/l.

Triglycerid tăng trong:

Tăng lipid máu gia đình.

Bệnh lý về gan.

Hội chứng thận hư.

Nhược giáp.

Đái đường.

Nghiện rượu.

Gout.

Viêm tụy.

Bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen.

Nhồi máu cơ tim cấp (tăng đến đỉnh trong 3 tuần, có thể tăng kéo dài trong 1
năm).

Tác dụng phụ của thuốc (liều cao estrogen, block β) + Triglycerid giảm trong:  Suy dinh dưỡng.

Vì trong thành phần của các lipoprotein (LP) có cholesterol, các xét nghiệm hiện nay về các LP thường được viết như:

LDL-C: là cholesterol có trong  LDL.

HDL-C: là cholesterol có trong HDL

HDL-cholesterol (HDL-C):

HDL-C là xét nghiệm định lượng cholesterol toàn phần của phân đoạn lipoprotein HDL.

Vai trò quan trọng của HDL là loại bỏ cholesterol từ các tế bào nội mạc động mạch, là yếu tố bảo vệ chống bệnh tim mạch, chống xơ vữa động mạch. Lượng HDL-C càng thấp (< 0,9 mmol/l) thì khả năng bị xơ vữa động mạch càng cao.

Bình thường: HDL- C > 0,9 mmol/l.

HDL-C tăng trong:

Tập luyện thể lực.

Tăng độ thanh thải của VLDL.

Điều trị bằng insulin.

Dùng estrogen.

HDL- C giảm trong:

Stress và bệnh tật (nhồi máu cơ tim cấp, đột quị, phẫu thuật, chấn thương).

Suy kiệt.

Không luyện tập thể thao.

Béo phì.

Hút thuốc.

Đái đường.

Nhược giáp.

Bệnh lý về gan.

Hội chứng thận hư.

Tăng urê máu.

Tác dụng phụ của thuốc (progesteron, steroid, hạ huyết áp nhóm chẹn β).

Tăng triglycerid máu.

Giảm α-lipoprotein máu gia đình.

Một số bệnh di truyền (bệnh Tangier, bệnh thiếu hụt nhóm chuyển acyl giữa lecithin và cholesterol, bệnh thiếu apoprotein A-I và C-III,…).

LDL-cholesterol (LDL-C):

LDL có 25% protein là apo B; cholesterol gắn với LDL (LDL-C), nó tham gia vào sự phát triển của mảng xơ vữa động mạch gây suy mạch, tắc mạch và nhồi máu.

Vai trò quan trọng của LDL là vận chuyển và phân bố cholesterol cho các tế
bào của các tổ chức.

Bình thường: LDL- C < 3,9 mmol/l.

LDL-C tăng trong:

Tăng cholesterol máu gia đình.

Đái đường.

Kết hợp với tăng lipid máu.

Nhược giáp.

Hội chứng thận hư.

Suy thận mạn.

Chế độ ăn nhiều cholesterol.

Phụ nữ mang thai.

U tuỷ.

Rối loạn chuyển hóa porphyrin.

Chán ăn do tâm lý, thần kinh.

Tác dụng phụ của thuốc (estrogen, steroid, hạ huyết áp nhóm chẹn β, carpazepin).

Phần protein có trong các LP gọi là apoprotein (viết tắt là Apo), chiếm tỷ lệ khác nhau trong các lipoprotein, thấp nhất ở chylomycron và tăng dần ở VLDLC, LDL-C, cao nhất ở HDL-C.

Trong số các Apo có Apo AI, Apo B được chú ý nhiều hơn cả vì chúng có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển HDL, LDL qua màng tế bào.

Apoprotein AI:

Apo A  là phần protein chủ yếu của HDL, gồm Apo AI và Apo AII . Trong đó Apo AI chiếm chủ yếu (60- 70% phần protein của HDL).

Có vai trò: làm giảm nồng độ chylomicron huyết tương.

Là chất kích thích hoạt động của enzym lecithin cholesterol acyl transferase (LCAT), enzym này xúc tác phản ứng chuyển gốc acid béo của lecithin ở vị trí carbon β sang cholesterol tạo thành cholesterol este hóa.

Là chất nhận diện cho receptor trên màng tế bào để nhận diện và vận chuyển HDL từ mọi tế bào vào gan, giúp cho việc loại bỏ cholesterol từ các tế bào nội mạc động mạch (làm giảm sự tạo thành các mảng xơ vữa thành mạch).

Định lượng Apo AI dựa theo nguyên lý sau: Apo AI có trong mẫu thử hoặc chuẩn ngưng kết với kháng thể kháng Apo AI có trong thuốc thử. Mức độ kết dính tỷ lệ thuận với nồng độ Apo AI có trong mẫu thử, và nồng độ Apo AI được xác định bằng phương pháp đo độ đục ở bước sóng 340 nm; so với chuẩn tính được kết quả.

Bình thường: Nam: 1,1 - 1,7 g/l. Nữ: 1,1 - 1,9 g/l.

Kỹ thuật xác định Apo AI được làm trên máy phân tích hóa sinh tự động (ví dụ như: Autohumalyzer 900s, Hitachi 902).

Apoprotein B (Apo B):

Apo B là phần protein của LDL, là chất nhận diện của receptor màng tế bào đối với LDL, đóng vai trò quan trọng đưa HDL từ máu vào các tế bào.

Hiện nay, các thuốc điều trị xơ vữa động mạch và giảm lipid máu có tác dụng làm tăng số lượng receptor đặc hiệu với LDL (Apo B) ở màng tế bào, tức là làm tăng khả năng tiếp nhận LDL, đưa chúng từ máu vào tế bào, tránh hiện tượng ứ đọng LDL ở thành mạch.

Định lượng Apo B dựa theo nguyên lý sau: Apo B có trong mẫu thử hoặc chuẩn ngưng kết với kháng thể kháng Apo B có trong thuốc thử, mức độ kết dính tỷ lệ thuận với nồng độ Apo B có trong mẫu thử và nồng độ Apo B được xác định bằng phương pháp đo độ đục ở bước sóng 340 nm; so với chuẩn tính được kết quả.

Bình thường: Nam: 0,6 - 1,18 g/l. Nữ: 0,52 - 1,02 g/l.

Kỹ thuật xác định Apo B được làm trên các máy phân tích hóa sinh tự động (ví dụ như: Autohumalyzer 900s, Hitachi 902).

Bệnh xơ vữa động mạch

Khái niệm: xơ vữa động mạch là tình trạng thành mạch dày lên và có lắng đọng cục bộ của lipid (cholesterol este và các lipid khác). Các lipoprotein lắng đọng, kết tụ tạo mảng vữa động mạch, làm  hẹp lòng mạch, giảm tính đàn hồi của mạch máu, suy giảm tuần hoàn, có thể dẫn đến nhồi máu.

Bệnh hay gặp trong: Tiểu đường, thận hư, béo phì, Gout, chế độ dinh dưỡng có nhiều lipid (triglycerid, cholesterol, phospholipid..).

Bệnh xơ vữa động mạch có thể có bất kỳ 1 trong các bất thường

VLDL tăng (chứa chủ yếu TG) với LDL bình thường (chứa chủ yếu là cholesterol).

LDL tăng với VLDL bình thường.

Cả LDL và VLDL đều tăng (cholesterol và triglycerid).

Các xét nghiệm cần làm để chẩn đoán xơ vữa động mạch

Định lượng TG huyết tương:

Có nhiều trong VLDL và LDL.

Định lượng cholesterol toàn phần, cholesterol este hóa:

Có nhiều trong các mảng xơ vữa.

Xơ vữa và choleserol thay đổi không song hành: có xơ vữa mà cholesterol vẫn bình thường ( tỷ lệ đáng kể).

Định lượng cholesterol trong HDL (HDL-C):

HDL-C tỷ lệ nghịch với nguy cơ xơ vữa động mạch.

Định lượng apoprotein huyết tương:

Giảm Apo AI, tăng Apo B: chỉ số trung thành nhất để chẩn đoán XVĐM. Có thể định lượng apoprotein bằng các phương pháp như:

Phương pháp miễn dịch-điện tử (EIA - eletro-immuno assay).

Phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA -radio immuno assay).

Phương pháp enzym-miễn dịch (ELISA-enzym linked immuno sorbent assay).

Phương pháp xét nghiệm độ đục miễn dịch (ITA= immuno- turbidimetric assay).

Dựa vào các kết quả xét nghiệm về các lipoprotein huyết tương có thể nhận biết về nguy cơ xơ vữa động mạch.

So với trị số bình thường mà các kết quả về cholesterol, triglycerid, các lipoprotein như: tăng cholesterol, tăng VLDL-C, tăng LDL-C, tăng  TG và HDLC giảm cho biết  nguy cơ xơ vữa động mạch cao.


Bài xem nhiều nhất

Xét nghiệm sinh hoá về bệnh gan mật

GOT, GPT đều tăng rất cao so với bình thường (có thể > 1000U/l), nhưng mức độ tăng của GPT cao hơn so với GOT, tăng sớm trước khi có vàng da, ở tuần đầu vàng da (tăng kéo dài trong viêm gan mạn tiến triển).

Các xét nghiệm hoá sinh về bệnh tiểu đường

HbA1C là dạng kết hợp của glucose với HbA1. Nó chiếm hơn 70% lượng hemoglobin được glycosyl hóa. Nồng độ HbA1C tương quan với nồng độ đường máu trong thời gian bệnh bùng phát (khoảng 6 - 8 tuần).

Xét nghiệm hoá sinh về bệnh thận tiết niệu

Độ thanh lọc (thanh thải = clearance) của một chất là số lượng “ảo” huyết tương (tính theo ml/phút) đã được thận lọc và đào thải hoàn toàn chất đó ra nước tiểu trong 1 phút.

Xét nghiệm về bệnh tuyến giáp và tuyến cận giáp

Việc vận chuyển mẫu bệnh phẩm đến phòng xét nghiệm cần đúng thời gian, hợp lý (để lạnh) và chuẩn bị mẫu xét nghiệm (trong một số xét nghiệm cần thiết phải tách chiết lấy huyết tương).

Đơn vị SI dùng trong xét nghiệm y học

Đơn vị khối lượng là những đơn vị dùng để biểu thị kết quả phân tích những hỗn hợp phân tử có khối lượng phân tử thay đổi hoặc chưa được xác định. Ví dụ: protein nước tiểu 24 giờ = 90 mg.

Xét nghiệm sinh hoá bệnh tuyến tụy

Hiện nay người ta dùng Kit để xác định hoạt độ amylase máu, nước tiểu. Trị số bình thường của nó phụ thuộc vào kỹ thuật và thuốc thử (chủ yếu là cơ chất như G3, G7).

Các xét nghiệm sinh hóa máu trong nhồi máu cơ tim cấp

CK là creatinkinase, có 3 isozym là CK-MM (cơ vân), CK-MB (cơ tim), và CK-BB (não). CK ở tim có CK-MB (> 40%) và CK-MM (~ 60%), CK có trong huyết tương chủ yếu là CK-MM.

Xét nghiệm hoá sinh rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch

Rối loạn lipid máu nói chung và các rối loạn lipoprotein là yếu tố nguy hại lớn liên quan tới sự phát triển bệnh tim mạch (như xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim).

Lưu ý lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm sinh hóa

Việc lấy huyết tương cho các xét nghiệm enzym là cần thiết vì trong thời gian đợi tách huyết thanh các enzym có nhiều trong hồng cầu, tiểu cầu dễ giải phóng ra trong quá trình đông máu làm cho kết quả sai lệch.

Xét nghiệm về Tumor marker và chẩn đoán bệnh ung thư

Người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp vật lý, phương pháp giải phẫu bệnh và phương pháp  hóa sinh thông qua việc xác định dấu ấn ung thư “ Tumor marker”.

Xét nghiệm hoá sinh máu bệnh đường hô hấp

Bicarbonat thực là nồng độ thực tế bicarbonat của mẫu máu lấy trong điều kiện không tiếp xúc với không khí, nó tương ứng với   pH và PaCO2 thực của mẫu máu.

Xét nghiệm sinh hóa trong tăng huyết áp

Các phát hiện cận lâm sàng chỉ ra trạng thái chức năng thận (ví dụ: xét nghiệm nước tiểu, urê máu, creatinin máu, acid uric máu, điện giải, phenol sulfo phtalein (PSP), độ thanh thải creatinin, đồng vị phóng xạ thận, sinh thiết thận…).

Xét nghiệm sinh hóa rối loạn cân bằng acid base

Trên giản đồ có một vòng tròn được xác định từ từ các thông số ở người bình thường: pH = 7,38 - 7,42; PaCO2 = 40 mmHg; HCO3- = 25 mmol/l và Hb = 150g/l.