Xét nghiệm sinh hóa rối loạn cân bằng acid base

Ngày: 29 - 7 - 2013

Trên giản đồ có một vòng tròn được xác định từ từ các thông số ở người bình thường: pH = 7,38 - 7,42; PaCO2 = 40 mmHg; HCO3- = 25 mmol/l và Hb = 150g/l.


Bình thường, pH máu ĐM = 7,38 - 7,41 và tỷ số [HCO3-/ H2CO3] = 20/1 (PaCO2  = 40 mmHg, HCO3- = 24 mmol/l, BE = 0 ± 2 (mmol/l).

Khi vai trò giữ cân bằng acid-base của các hệ đệm, phổi, thận bị giảm hoặc
mất hiệu lực sẽ gây nên rối loạn cân bằng acid-base.

3 nhóm rối loạn CBAB

Rối loạn do nguyên nhân hô hấp (do PaCO2 thay đổi).

Rối loạn do nguyên nhân chuyển hóa (do HCO3_ thay đổi).

Rối loạn hỗn hợp do cả nguyên nhân chuyển hóa và nguyên nhân hô hấp.

Để đánh giá các trạng thái rối loạn cân bằng acid-base, trong lâm sàng có thể dùng giản đồ Shneerson, Siggar Anderson, Davenport, trong đó giản đồ.

Davenport được sử dụng nhiều hơn.

Giản đồ Davenport

Giản đồ Davenport có 2 trục:

Trục hoành là pH (6,9 - 7,7).

Trục tung là HCO3- (mmol/l).

Các đường cong là PaCO2 ( phân áp của CO2 máu động mạch).

Trên giản đồ có một vòng tròn được xác định từ từ các thông số ở người bình thường: pH = 7,38 - 7,42; PaCO2 = 40 mmHg; HCO3- = 25 mmol/l và Hb = 150g/l.

Từ 2 đường tại điểm pH = 7,38 - 7,42 cắt các đường cong PaCO2 ở 40 mmHg và đường thẳng Hb = 150 g/l tạo thành 6 khu vực rối loạn cân bằng acid-base.

Các rối loạn cân bằng acid-base

6 khu vực rối loạn cân bằng acid-basetrên giản đồ Davenport gồm: nhiễm toan hô hấp ( A), nhiễm kiềm chuyển hóa (B), nhiễm kiềm hô hấp (C), nhiễm toan chuyển hóa (D), nhiễm toan hỗn hợp (E) và nhiễm kiềm hỗn hợp (F).

Nhiễm toan hô hấp (A)

Rối loạn khởi phát của nhiễm toan hô hấp  là tăng PaCO2 do giảm thải CO2 ở phổi. Nguyên nhân:

Giảm thông khí phế nang, tắc nghẽn phế quản.

Bệnh phổi: phế quản phế viêm, viêm phổi, hen.

Hít phải khí CO2, hít lại không khí đã thở.

Bị ức chế thần kinh: thuốc ngủ, bại liệt, nhiễm độc, chấn thương sọ não, u
não...

Xét nghiệm các thông số về cân bằng acd-base cho thấy:

pH giảm.

PaCO2 tăng.

HCO3- máu tăng.

CO2 toàn phần máu tăng.

Base đệm (BB) giảm, BE âm.

Nhiễm kiềm chuyển hóa (B)

Là trạng thái thừa base hoặc do mất acid không phải là H2CO3.

Nguyên nhân: là quá dư thừa kiềm do đưa vào cơ thể quá nhiều bicarbonat, hay quá nhiều chất kiềm, hoặc do mất acid trong các trường hợp:

Nôn nhiều.

Hút dịch dạ dày.

ỉa chảy kéo dài.

Kết quả xét nghiệm các thông số cân bằng acid-base:

pH máu tăng.

PaCO2 máu tăng.

CO2 toàn phần máu tăng.

Bicarbonat (HCO3-) máu tăng.

Bicarbonat chuẩn (SB) tăng.

Base đệm (BB) tăng.

Base dư (BE) dương.

Nhiễm kiềm hô hấp (C)

Nhiễm kiềm hô hấp là rối loạn khởi phát do giảm PaCO2.

Các trường hợp:

Giai đoạn đầu của viêm phổi.

Sốt cao.

Hô hấp nhân tạo quá mức không kiểm tra.

Chấn thương sọ não.

Thở trong khí quyển có phân áp CO2 thấp (khi lên cao). 

Khi xét nghiệm các thông số cân bằng acid-base cho thấy:

pH máu tăng.

HCO3- máu giảm.

PaCO2, CO2 toàn phần giảm.

BB tăng và BE dương.

Nhiễm toan chuyển hóa (D)

Là trạng thái do mất các anion đệm, chủ yếu là HCO3- hoặc do tích lũy các acid “cố định”, trong thực tế là các acid mạnh mà anion của nó không thể bài xuất qua thận.

Kết quả xét nghiệm trong nhiễm toan chuyển hóa cho thấy:

pH máu giảm mạnh.

PaCO2 giảm mạnh.

CO2 toàn phần máu giảm.

SB giảm, BB giảm.

BE âm.

Nhiễm toan chuyển hóa có thể gặp trong các trường hợp:

Đái tháo đường do ứ đọng các thể cetonic.

Phù phổi cấp, động kinh, rối loạn chuyển hóa glucid gây ứ đọng acid lactic.

Các bệnh thận: viêm thận cấp và mạn không đào thải được acid.

Ỉa chảy cấp làm mất HCO3- .

Nhiễm toan chuyển hóa có nguy cơ tử vong cao nhất so với các rối loạn cân bằng acid-base khác.

Nhiễm toan hỗn hợp (E)

Nhiễm toan hỗn hợp là sự kết hợp nhiễm toan chuyển hóa và nhiễm toan hô
hấp.

Kết quả xét nghiệm trong nhiễm toan hỗn hợp cho thấy:

pH máu giảm mạnh.

PaCO2 tăng.

HCO3-  giảm.

BE âm.

Có thể gặp nhiễm toan hỗn hợp trong các trường hợp:

Suy hô hấp: phù phổi cấp làm giảm thông khí phế nang, tăng PaCO2, gây thiếu oxy và gây ứ đọng acid lactic.

Viêm cầu thận mạn kết hợp với hen phế quản.

Phế quản phế viêm.

Nhiễm kiềm hỗn hợp (F)

Nhiễm kiềm hỗn hợp là sự kết hợp nhiễm kiềm hô hấp và nhiễm kiềm chuyển
hóa.

Kết quả xét nghiệm cho thấy:

pH máu tăng mạnh.

PaCO2 giảm.

HCO3- tăng.

BE dương.

Gặp trong các trường hợp như:

Hôn mê gan.

Hôn mê do thuốc ngủ sau khi điều trị phối hợp thông khí nhân tạo với kiềm máu để loại trừ thuốc ngủ.

Thiếu oxy máu

Tiêu chuẩn về thiếu oxy máu:

Giảm PaO2 máu (giảm oxy hòa tan, dạng oxy cần cho tế bào sử dụng).

Ưu thán máu: tăng PaCO2 máu (dạng CO2 hòa tan trong máu), PaCO2 > 50 mmHg, thường là do giảm chức năng thông khí.

Hậu quả thiếu oxy máu:

Giảm tưới máu ở da và niêm mạc.

Thiếu máu não.

Giảm khả năng hoạt động sinh lý, giảm thể lực, giảm sức đề kháng của cơ thể.

Thiếu oxy máu là một trong các nguyên nhân dẫn đến rối loạn các quá trình oxy hóa sinh học, kết quả là gây thiếu năng lượng tế   bào, dẫn đến hủy diệt tế bào.


Bài xem nhiều nhất

Xét nghiệm sinh hoá về bệnh gan mật

GOT, GPT đều tăng rất cao so với bình thường (có thể > 1000U/l), nhưng mức độ tăng của GPT cao hơn so với GOT, tăng sớm trước khi có vàng da, ở tuần đầu vàng da (tăng kéo dài trong viêm gan mạn tiến triển).

Các xét nghiệm hoá sinh về bệnh tiểu đường

HbA1C là dạng kết hợp của glucose với HbA1. Nó chiếm hơn 70% lượng hemoglobin được glycosyl hóa. Nồng độ HbA1C tương quan với nồng độ đường máu trong thời gian bệnh bùng phát (khoảng 6 - 8 tuần).

Xét nghiệm hoá sinh về bệnh thận tiết niệu

Độ thanh lọc (thanh thải = clearance) của một chất là số lượng “ảo” huyết tương (tính theo ml/phút) đã được thận lọc và đào thải hoàn toàn chất đó ra nước tiểu trong 1 phút.

Xét nghiệm về bệnh tuyến giáp và tuyến cận giáp

Việc vận chuyển mẫu bệnh phẩm đến phòng xét nghiệm cần đúng thời gian, hợp lý (để lạnh) và chuẩn bị mẫu xét nghiệm (trong một số xét nghiệm cần thiết phải tách chiết lấy huyết tương).

Đơn vị SI dùng trong xét nghiệm y học

Đơn vị khối lượng là những đơn vị dùng để biểu thị kết quả phân tích những hỗn hợp phân tử có khối lượng phân tử thay đổi hoặc chưa được xác định. Ví dụ: protein nước tiểu 24 giờ = 90 mg.

Xét nghiệm sinh hoá bệnh tuyến tụy

Hiện nay người ta dùng Kit để xác định hoạt độ amylase máu, nước tiểu. Trị số bình thường của nó phụ thuộc vào kỹ thuật và thuốc thử (chủ yếu là cơ chất như G3, G7).

Các xét nghiệm sinh hóa máu trong nhồi máu cơ tim cấp

CK là creatinkinase, có 3 isozym là CK-MM (cơ vân), CK-MB (cơ tim), và CK-BB (não). CK ở tim có CK-MB (> 40%) và CK-MM (~ 60%), CK có trong huyết tương chủ yếu là CK-MM.

Xét nghiệm hoá sinh rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch

Rối loạn lipid máu nói chung và các rối loạn lipoprotein là yếu tố nguy hại lớn liên quan tới sự phát triển bệnh tim mạch (như xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim).

Lưu ý lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm sinh hóa

Việc lấy huyết tương cho các xét nghiệm enzym là cần thiết vì trong thời gian đợi tách huyết thanh các enzym có nhiều trong hồng cầu, tiểu cầu dễ giải phóng ra trong quá trình đông máu làm cho kết quả sai lệch.

Xét nghiệm về Tumor marker và chẩn đoán bệnh ung thư

Người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp vật lý, phương pháp giải phẫu bệnh và phương pháp  hóa sinh thông qua việc xác định dấu ấn ung thư “ Tumor marker”.

Xét nghiệm hoá sinh máu bệnh đường hô hấp

Bicarbonat thực là nồng độ thực tế bicarbonat của mẫu máu lấy trong điều kiện không tiếp xúc với không khí, nó tương ứng với   pH và PaCO2 thực của mẫu máu.

Xét nghiệm sinh hóa trong tăng huyết áp

Các phát hiện cận lâm sàng chỉ ra trạng thái chức năng thận (ví dụ: xét nghiệm nước tiểu, urê máu, creatinin máu, acid uric máu, điện giải, phenol sulfo phtalein (PSP), độ thanh thải creatinin, đồng vị phóng xạ thận, sinh thiết thận…).

Xét nghiệm sinh hóa rối loạn cân bằng acid base

Trên giản đồ có một vòng tròn được xác định từ từ các thông số ở người bình thường: pH = 7,38 - 7,42; PaCO2 = 40 mmHg; HCO3- = 25 mmol/l và Hb = 150g/l.