Phác đồ điều trị tràn khí màng phổi ở trẻ em

Ngày: 2017-6-18

By member of dieutri.vn

Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát: Thường do biến chứng của các bệnh lý hô hấp như: Lao phổi, hen phế quản, viêm phế quản phổi, bệnh tụ cầu phổi màng phổi, áp-xe phổi, dị vật đường thở.

Nhận định chung

Tràn khí màng phổi là hội chứng có sự xuất hiện của khí trong khoang màng phổi. Không khí vào khoang màng phổi nhưng không ra được làm cho nhu mô phổi xẹp lại về phía rốn phổi. Đây là tình trạng bệnh lý cấp cứu, có thể gây suy hô hấp đột ngột và dẫn đến tử vong.

Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát: Vỡ nang phổi bẩm sinh, nang phế quản. Bệnh nhân thường không có tiền sử và biểu hiện của bệnh lý hô hấp trước đó.

Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát: Thường do biến chứng của các bệnh lý hô hấp như: Lao phổi, hen phế quản, viêm phế quản phổi, bệnh tụ cầu phổi màng phổi, áp-xe phổi, dị vật đường thở.

Tràn khí màng phổi do chấn thương: Thủng, rách đường thở do chấn thương lồng ngực, nội soi phế quản, phẫu thuật lồng ngực. Vỡ phế nang do áp lực: hô hấp nhân tạo, bóp bóng, thở máy.

Phác đồ điều trị tràn khí màng phổi ở trẻ em

Điều trị tràn khí màng phổi tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, mức độ và nguyên nhân tràn khí.

Chọc hút khí màng phổi

Chỉ định cho các trường hợp:

Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát và thứ phát.

Mức độ tràn khí trên 10 - 20%.

Bệnh nhân có khó thở.

Dẫn lưu khí màng phổi:

Chỉ định mở màng phổi tối thiểu để dẫn lưu khí màng phổi trong các trường hợp.

Tràn khí màng phổi tái phát, tràn khí cả hai bên, lượng nhiều gây xẹp phổi hoàn toàn.

Tràn khí do chấn thương.

Tràn máu tràn khí màng phổi, tràn dịch tràn khí màng phổi.

Tràn khí màng phổi dai dẳng, hoặc có dò phế quản màng phổi.

Chọc hút khí bằng kim không hiệu quả.

Tràn khí màng phổi áp lực: cần cấp cứu ngay bằng đặt kim dẫn lưu khí một chiều sau đó đặt đẫn lưu hút liên tục.

* Vị trí đặt dẫn lưu màng phổi ở khoang liên sườn II - III đường giữa đòn (nếu dùng trocart) hoặc khoang liên sườn IV đường nách giữa (nếu dùng ống dẫn lưu kiểu Sherwood). Ống dẫn lưu nối với hệ thồng dẫn lưu kín, một chiều, vô trùng, hút liên tục với áp lực trung bình - 5cmH2O đến - 10cmH2O.

* Cần chụp Xquang ít nhất 1lần/ngày để theo dõi xem phổi có nở ra không.

* Ống dẫn lưu màng phổi lưu đến khi không còn khí thoát ra. Kẹp ống dẫn lưu 12h - 24h trước khi rút. Chụp Xquang phổi kiểm tra trước khi rút ống.

Điều trị nguyên nhân gây tràn khí màng phổi

Gắp dị vật đường thở.

Điều trị hen, viêm phổi, điều trị lao theo phác đồ.

Điều trị triệu chứng

Tư thế bệnh nhân: nằm đầu cao.

Thở oxy liên tục, lưu lượng cao.

Chống sốc và truỵ tim mạch, nâng huyết áp, trợ tim.

Giảm đau: paracetamol hoặc các thuốc giảm đau khác.

An thần, giảm ho.

Phẫu thuật chỉ định khi

Cắt bỏ nang phổi, nang phế quản.

Phẫu thuật sửa chữa chấn thương, vết thương.

Dẫn lưu sau 1 tuần không kết quả.

Tràn khí màng phổi tái phát sau khi đã gây dính màng phổi.