Thở ô xy qua mũi và ống mở khí quản


Ngày: 5 - 4 - 2015

Liệu pháp oxy được chỉ định cho các người bệnh có biểu hiện thiếu oxy (nồng độ oxy thấp hoặc độ bão hòa oxyhemoglobin trong máu động mạch thấp).

Nhận định chung

Liệu pháp oxy là cung cấp oxy cho người bệnh. Mục đích của liệu pháp oxy là phòng hoặc giảm tình trạng thiếu oxy. Bất cứ người bệnh nào mà sự oxy hoá mô không đủ đều có thể nhận thêm oxy từ việc cung cấp oxy có kiểm soát.

Lý thuyết liên quan

Đại cương

Liệu pháp oxy được chỉ định bởi bác sĩ, là người xác định nồng độ đặc hiệu, phương pháp và thể tích lít/ phút. Nhưng khi việc cung cấp oxy là biện pháp cấp cứu thì người điều dưỡng có thể tự bắt đầu liệu pháp.

Liệu pháp oxy chỉ là một biện pháp hỗ trợ và chỉ nên được sử dụng khi có chỉ định. Như bất cứ loại thuốc nào, liều hoặc nồng độ oxy nên được theo dõi liên tục. Người điều dưỡng cần kiểm tra y lệnh của bác sĩ hằng ngày để xác định nồng độ oxy được chỉ định và cần áp dụng các nguyên tắc kiểm tra 5 đúng như trong việc cho người bệnh uống thuốc.

Chỉ định

Liệu pháp oxy được chỉ định cho các người bệnh có biểu hiện thiếu oxy (nồng độ oxy thấp hoặc độ bão hòa oxyhemoglobin trong máu động mạch thấp).

Thiếu oxy có thể do nguyên nhân sau:

Các chướng ngại ở đường hô hấp: đồm dãi, dị vật, co thắt, phù nề.

Hạn chế hoạt động của lồng ngực: liệt cơ hô hấp do tổn thương thần kinh, vẹo cột sống, chấn thương lồng ngực gây ra gãy xương sườn, tràn khí, tràn dịch màng phổi.

Suy giảm chức năng của hệ thần kinh tham gia vào quá trình hô hấp: viêm não, chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não.

Các bệnh gây cản trở sự khuếch tán của khí trong phổi: viêm phổi, phù phổi cấp, khí phế thũng, viêm phế quản phổi.

Các bệnh làm rối loạn quá trình vận chuyển oxy máu và tuần hoàn: thiếu máu, suy tim, bệnh tim bẩm sinh.

Các triệu chứng chính của tình trạng thiếu oxy:

Triệu chứng của thiếu oxy tùy thuộc vào tuổi, sức khoẻ, tình trạng bệnh lý hiện tại và bệnh mạn tính của người bệnh. Dấu hiệu của thiếu oxy gồm có:

Mạch nhanh.

Thở nhanh, nông, khó thở.

Bồn chồn, chóng mặt.

Cánh mũi phập phồng.

Co kéo khoảng gian sườn và hõm ức.

Xanh tím.

Nguyên tắc khi tiến hành liệu pháp oxy

Nguyên tắc chung

Sử dụng đúng liều lượng, đúng phương pháp: sử dụng liều lượng và dùng phương pháp thích hợp theo chỉ định của bác sĩ để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho người bệnh. Như bất kỳ loại thuốc nào, oxy không phải hoàn toàn vô hại cho người bệnh. Nồng độ oxy lớn hơn 50% có thể dẫn đến ngộ độc oxy. Nên sử dụng nồng độ oxy thấp nhất cần thiết để đạt được sự bão hoà oxy máu động mạch mong muốn.

Phòng tránh nhiễm khuẩn: oxy là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nhanh, vì vậy cần đảm bảo khâu vô khuẩn trong quá trình cung cấp oxy.

Phòng tránh khô đường hô hấp: trong quá trình cung cấp oxy cho người bệnh cần làm ẩm oxy trước khi đi vào, cho người bệnh uống thêm nước nếu có thể.

Nguyên tắc vể an toàn: cần phải bảo đảm an toàn trong khi sử dụng liệu pháp oxy, vì nó dễ gây ra tình trạng cháy nổ.

Dụng cụ cung cấp oxy

Oxy được cung cấp bằng hai hệ thống: hệ thống vận chuyển được như bình đựng, túi đựng và hệ thống kín ở trong tường.

Oxy được cung cấp từ bình đựng hoặc hệ thống tường là oxy khô. Khí khô này làm mất nước của màng nhày hô hấp, vì vậy cần làm ẩm oxy trước khi cho vào đường hô hấp của người bệnh, đặc biệt khi thể tích thở vào trên 2 lít/ phút.

Dụng cụ cung cấp oxy bao gồm ông thông mũi, canun mũi, mặt nạ, lều oxy, ống chữ T hoặc vòng cổ dùng trong thông khí nhân tạo (nội khí quản hay mở thông khí khí quản).

Ống thông mũi

Ống thông mũi là ống mềm dẻo và trơn láng, dài khoảng 40 cm. Đầu xa của ống có nhiều lỗ hở nhỏ để oxy có thể thoát ra. Tốc độ bình thường của dòng oxy qua ống mũi là từ 1 đến 6 lít/ phút. Fi02 từ 24% đến 40%. ống thông mũi có thuận lợi là sẵn có cho bất kỳ người bệnh ở bất cứ độ tuổi nào, rẻ tiền và dùng một lần. Tuy nhiên ống thông mũi có hạn chế trong sử dụng vì gây ra tình trạng khó chịu cho người bệnh khi dùng, có thể dính vào hốc mũi và làm khô miệng hầu. Liệu pháp này còn tốn nhiều thời gian.

Canun

Bao gồm một cái ống dài với hai nhánh 0,6 - 1,3cm cong mà cố định vào trong hai lỗ mũi. Mỗi bên của ống nối với ống oxy cung cấp. Canun thường được giữ cố định quanh đầu của người bệnh hoặc dưới cằm. Trừ khi đường mũi bị nghẽn còn không thì canun sẽ cung cấp đủ oxy, ngay cả đối với những người mà thở chủ yếu bằng miệng. Nó cung cấp nồng độ oxy tương đối thấp (24 - 44%) ở thể tích 2-6 lít/ phút. Khi thể tích oxy trên 6 lít/ phút, người bệnh có khuynh hướng nuốt không khí và niêm mạc hầu dễ bị kích thích. Ngoài ra hiệu số oxy thở vào không tăng.

Mặt nạ

Hầu hết mặt nạ được làm bằng plastic dẻo mà có thể gắn vào mặt. Chúng được giữ ở đầu của người bệnh với những dây đàn hồi. Một số có kẹp bằng kim loại và có thế được bẻ cong qua cầu mũi để cố định chặt hơn. Có vài lỗ ỏ bên của mặt nạ để cho phép sự thoát ra của C02. Để tránh cho ngưòi bệnh hít C02 vào lại khi mang mặt nạ, liều oxy tối thiểu là 5 lít/ phút. Một số mặt nạ có túi chứa, nó cung cấp nồng độ oxy cao hơn cho người bệnh. Phần còn lại của khí thở sẽ được đi vào túi.

Nhũng loại mặt nạ được dùng trên thị trường

Mặt nạ đơn giản cung cấp nồng độ oxy từ 40 - 60% tương ứng thể tích 5 – 8l/phút. Mặt nạ được chống chỉ định cho những người bệnh giữ C02 bởi tình trạng này có thể xấu thêm.

Mặt nạ thở vào lại một phần cung cấp oxy 40 - 60% vối thể tích 6 - 10lít/phút. Túi chứa oxy được gắn vào cho phép người bệnh thở vào khoảng 1/3 lượng khí thở ra kết hợp với oxy. Túi thở vào lại một phần không phải làm xẹp hoàn toàn trong quá trình thở vào để tránh tạo khí C02. Nếu điều này xảy ra, thể tích oxy lít/ phút cần được tăng.

Mặt nạ không thở vào lại cung cấp nồng độ oxy cao nhất, sử dụng túi không thở vào lại, người bệnh chỉ thở nguồn khí từ túi. Van một chiều trên mặt nạ và giữa túi dự trữ và mặt nạ tránh không khí phòng và không khí thở ra của người bệnh đi vào túi. Đe tránh sự tích tụ C02, túi này không hoàn toàn dẹt trong kỳ thở vào. Nếu nó như vậy thì người điều dưỡng nên tăng thể tích khí thở vào.

Mặt nạ Venturi được sử dụng khi cần cung cấp cho người bệnh lượng oxy có nồng độ thấp và chính xác. Mặt nạ này có thể cung cấp oxy cho người bệnh với nồng độ thay đổi từ 24 - 50%. Nồng độ oxy được ghi rõ trong mặt nạ. Nếu tăng thể tích oxy cao hơn nồng độ oxy đặc hiệu sẽ không tăng nồng độ được cung cấp cho người bệnh.

Lều

Lều có thể dùng để thay thế mặt nạ khi người bệnh không thể dùng mặt nạ được. Khi dùng lều để cung cấp oxy, nồng độ oxy thay đổi vì vậy, nó thường được sử dụng để nối vối hệ thống Venturi. Lều cung cấp nồng độ oxy khác nhau (ví dụ: 30 - 50% oxy ở thể tích 4 - 8 lít/phút).

Ống chữ T hoặc vòng cổ trong thông khí nhân tạo (nội khí quản hoặc mở thông khí quản)

Đối vối thông khí nhân tạo, oxy cung cấp cần phải luôn luôn được làm ẩm vì không đi qua đường thở thông thường là miệng và mũi. Hai dụng cụ được sử dụng đế làm cung cấp oxy ẩm là ống chữ T hoặc vòng cổ trong mở thông khí quản.

Ống chữ T là một thiết bị hình chữ T có một nhánh nội nguồn cung cấp oxy với đường thông khí nhân tạo (nội khí quản hoặc mở thông khí quản).

Vòng cổ trong mở thông khí quản là một loại thiết bị có mặt cong với quai có thể điều chỉnh cho phù hợp với cổ người bệnh. Có hai lỗ: một lỗ luôn luôn mở ở phía người bệnh để thoát khí và một lỗ nối với nguồn oxy.

Quy trình kỹ thuật

Chuẩn bị người bệnh

Thông báo trước và giải thích cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh.

Chuẩn bị dụng cụ

Oxy cung cấp, áp lực kế, lưu lượng kế, dây dẫn, ống nối tiếp v.v...

Dụng cụ làm ẩm theo hưóng dẫn của y lệnh bác sĩ.

Ống thông mũi, canun, mặt nạ với kích thước thích hợp.

Băng dính.

Dây đàn hồi để cố định. Đội mũ, mang khẩu trang, mang găng.

Chuẩn bị nhân viên y tế                                      

Để ngúời bệnh nằm ở tư thế và vị tri thích hợp.

Chuẩn bị cung cấp oxy và hệ thống làm ẩm.

Đặt người bệnh ở tư thế Fowler.

Mở oxy theo tốc độ đã được chỉ định

Dùng dụng cụ cung cấp oxy thích hợp

Gắn lưu lượng kế vào vị trí thoát oxy từ ống dẫn hoặc từ bình chứa.

Làm đầy chai làm ẩm, gắn chai vào đáy của lưu lượng kế.

Gắn ống oxy và dụng cụ cung cấp vào bộ phận làm ẩm.

Cho liều lượng oxy theo y lệnh’

Ống thông mũi:

Đo chiều dài ống thông mũi: đo khoảng cách từ cánh mũi của người bệnh đến dái tai và làm dấu điểm mốc đó.

Làm trơn ống thông bằng dầu trơn tan trong nước.

Đặt ống thông nhẹ nhàng vào trong một lỗ mũi, luồn ống dọc theo sàn của hốc mũi, ngừng tại điểm đã làm dấu trưốc đó.

Kiểm tra hốc miệng bằng đè lưỡi và đèn. Đầu của ống có thể nhìn thấy được bên lưỡi gà, rút ống lui khoảng 0,6 cm để không nhìn thấy ống nữa.

Giúp lồng ngực giãn nở dễ dàng hơn.

Đảm bảo của hệ thống cung cấp oxy kín và hiệu quả.

Đảm bảo cung cấp oxy đúng liều lượng và hiệu quả, an toàn.

Đảm bảo tính riêng tư nếu ngươi bệnh có yêu cầu.

Nên khoá dòng oxy trong giai đoạn này.

Kiểm tra hệ thống cung cấp oxy cẩn thận của ống thông mũi.

Kiểm tra oxy có đi qua ống chưa.

Không nên để ống bị xoắn, chỗ nối phải kín. Có bọt khí ở bình làm ẩm khi dòng oxy đi qua.

Kiểm tra dòng oxy ở đầu của canun, ống thông mũi, mặt nạ và lều.

Tùy theo điểu kiện của ngươi bệnh và dụng cụ sẵn có tại bệnh phòng để lựa chọn phương tiện phù hợp.

Đảm bảo sự thoải mái và thuận tiện cho người bệnh.

Thở oxy qua mặt nạ:

Cố định ống và mũi của người bệnh, cố định ống nối vào áo của người bệnh hoặc giường, không làm căng ống.

Canun:

Đặt 2 nhánh của canun vào hai lỗ mũi, quấn dây cố định quanh đầu.

Nếu canun không cố định được thì dùng băng keo dán lạl ở bên mặt.

Mặt nạ:

Các chất tiết có thể cản trở sự thông khí, làm giảm lượng oxy đưa vào.

Đưa mặt nạ lên mặt người bệnh rồi áp từ mũi xuống.

Cố định mặt nạ vòng quanh mặt của người bệnh. Mặt nạ nên sát theo mặt người bệnh để ít oxy vào mắt, hoặc thoát ra ngoài quanh cằm và má.

Đánh giá người bệnh và theo dõi tình trạng của người bệnh

Cố định mặt nạ bằng dây đàn hồi quanh đầu của người bệnh đủ chặt nhưng người bệnh phải cảm giác đễ chịu.

Ổng chữ T hoặc vòng cổ.

Trước khi gắn thiết bị, cần hút sạch các chất tiết hầu họng.

Gắn thiết bị vào nguồn cung cấp oxy và điều chỉnh liều theo y lệnh.

Theo dõi:

Các dấu hiệu sống.

Dấu hiệu lâm sàng của thiếu oxy, tim đập nhanh, lú lẫn, khó thỏ, bất an, và xanh tím.

Đảm bảo xử trí kịp thời các tai biến và biến chứng có thể xảy ra

Kiểm tra khí máu động mạch nếu sắn có Canun mũi, ống thông mũi:

Đánh giá lỗ mũi của người bệnh có nút nhày và kích thích tại chỗ không. Đặt chất nhờn (hoà tan trong nước) khi cần thiết để làm giảm đau.

Thay ống thông mũi ít nhất một lần/ngày hoặc mỗi 8 giò. Luồn lại ống khác vào lỗ mũi bẽn kia.

Mặt nạ hoặc lều:

Xử trí và báo bác sĩ kịp thời các dấu hiện bất thường.

Thay dụng cụ đúng thời gian quy định.

Theo dõi các dụng cụ cung cấp oxy thường xuyên

Theo dõi da vùng mặt thường xuyên xem xét sự ẩm ướt, chà xát, khô, và điều trị khi cẩn thiết.

Kiểm tra lưu lượng kế và mức độ nước trong bình làm ẩm cứ mỗi 30 phút và bất cứ khi nào cần thiết.

Đảm bảo hệ thống cung cấp oxy làm việc hiệu quả, an toàn.

Đảm bảo việc tuân thủ biện pháp đề phòng cháy nổ.

Kiểm tra y lệnh của bác sĩ 4 giờ/lần.

Thực hiện các bước phòng chống cháy nổ theo quy định.

Khẩn trương, kịp thời, chính xác.

Báo cáo bác sĩ và ghi vào hồ sơ tình trạng người bệnh

Báo cáo bác sĩ sau khi thực hiện xong kỹ thuật.

Ghi nhận xét quy trình thực hiện, các biểu hiện của người bệnh và các biện pháp đã tiến hành.

Kịp thời xử lý các bất thường nếu có.

Theo dõi và quản lí hồ sơ người bệnh.

Ghi chép hổ sơ đầy đủ, chi tiết.

Báo cáo bác sĩ sau khi thực hiện xong kỹ thuật.


Bài xem nhiều nhất

Kỹ thuật đặt ống thông dạ dày

Trên lâm sàng thường gặp đặt ống thông dạ dày trong hỗ trợ việc nuôi dưỡng, cho thuốc người bệnh đối với những người bị mất khả năng ăn uống bằng đường miệng.

Kỹ thuật sơ cứu gãy xương

Cho dù là gãy xương kín hay gãy xương hở thì công tác sơ cứu gãy xương cũng phải được tiến hành nhanh chóng chính xác tại nơi xảy ra tai nạn.

Kỹ thuật khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế

Các phương pháp tiệt khuẩn gồm hấp ướt, hấp khô, và tiệt khuẩn bằng khí. Hấp ướt: là phương pháp thông thường và thích hợp nhất để tiệt uẩn cho tất cá các dụng cụ dùng trong các thủ thuật xâm lấn chịu được nhiệt và độ ẩm.

Thay băng vết thương và cắt chỉ

Máu vết thương người bệnh dính, phải làm ẩm bằng tưới dung dịch rửa - Vết thương khô, tháo băng theo chiều dọc vết mổ.

Rửa tay thường quy phòng ngừa nhiễm khuẩn

Trong quá trình chăm sóc và điều trị, đôi bàn tay của nhân viên y tế rất dễ bị ô nhiễm với các tác nhân gây bệnh. Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào loại thao tác và thời gian thực hiện thao tác trên người bệnh.

Kỹ thuật thông tiểu nữ

Tính chất nước tiểu bình thường là trong. Nước tiểu mới bài xuất ra thường sạch, không có cặn lắng, nước tiểu dẫn lưu qua ống thông thường trong không có cặn lắng nhưng thỉnh thoảng có một vài mảnh vụn niêm mạc.

Kỹ thuật đặt kim luồn ngoại vi

Kỹ thuật tiêm, truyền tĩnh mạch được thực hiện bằng kim luồn ngoại vi là phương pháp tiêm, truyền tĩnh mạch sử dụng loại kim làm bằng ống nhựa mềm luồn vào trong lòng tĩnh mạch.

Kỹ thuật hút đờm rãi

Kỹ thuật hút mở là kỹ thuật hút có sử dụng ống hút vô khuẩn và ống hút này được mở ra tại thời điểm hút, người điều dưỡng phải mang găng vô khuẩn khi tiến hành thủ thuật hút.

Kỹ thuật thông tiểu nam

Niệu đạo là đường dẫn nước tiểu đến bàng quang, ở nam, niệu đạo dài khoảng 20 cm dùng để vận chuyển nước tiểu và tinh dịch.

Kỹ thuật thụt tháo cho bệnh nhân

Đặt người bệnh nằm ở tư thế đúng. Giúp người bệnh nằm nghiêng sang trái với đầu gối chân phải co. Người bệnh không tự chủ, trẻ em có thể được đăt nằm ngửa.

Kỹ thuật rửa tay vô khuẩn ngoại khoa

Rửa tay ngoại khoa được áp dụng bắt buộc cho phẫu thuật viên và người phụ mổ trước khi tiến hành phẫu thuật, chuẩn bị dụng cụ vô khuẩn hay thực hiện các chăm sóc đặc biệt.

Thở ô xy qua mũi và ống mở khí quản

Liệu pháp oxy được chỉ định cho các người bệnh có biểu hiện thiếu oxy (nồng độ oxy thấp hoặc độ bão hòa oxyhemoglobin trong máu động mạch thấp).

Các biện pháp cầm máu tạm thời

Trước khi tiến hành sơ cứu mạch máu, cần phải nhận định được vết thương mạch máu thuộc động mạch, tĩnh mạch hay mao mạch.

Sát khuẩn tay bằng dung dịch cồn

Tháo đồ trang sức ở tay. Lấy khoáng 3 - 5 ml dung dịch chứa cồn vào lòng bàn tay. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau.

Kỹ thuật pha thuốc cho người bệnh

Điều dưỡng cần phải biết rõ quy trình pha thuốc và thận trọng trong thao tác để có được một bơm tiêm thuốc không bị nhiễm khuẩn và không làm giảm liều lượng của thuốc.