Các biện pháp cầm máu tạm thời

Ngày: 3 - 4 - 2015

Trước khi tiến hành sơ cứu mạch máu, cần phải nhận định được vết thương mạch máu thuộc động mạch, tĩnh mạch hay mao mạch.


Nhận định chung

Chấn thương có thể gặp ở mọi nơi trên thế giới. Rất nhiều nước nghèo có tỷ lệ chấn thương do tai nạn giao thông, sinh hoạt và làm việc cao. Chấn thương gây nên các vết thương dập nát tổ chức đều có thể gây chảy máu. Do đó, việc phát hiện sớm chảy máu và nhanh chóng làm ngừng chảy máu tại nơi bị thương là rất quan trọng và cần thiết để hạn chế được các biến chứng nguy hiểm, cứu tính mạng cho người bị thương.

Lý thuyết liên quan

Trước khi tiến hành sơ cứu mạch máu, cần phải nhận định được vết thương mạch máu thuộc động mạch, tĩnh mạch hay mao mạch.

Vết thương động mạch có thể quan sát thấy máu chảy nhiều, phụt thành tia, mạnh lên theo nhịp mạch nảy và máu màu đỏ tươi (trừ vết thương động mạch phổi).

Vết thương tĩnh mạch có các đặc điểm: tốc độ chảy chậm hơn so với vết thương động mạch. Nếu các tĩnh mạch lớn bị tổn thương thì máu chảy nhiều và trào ra đều ở bề mặt vết thương. Máu có màu đỏ sẫm.

Vết thương mao mạch thường gặp ở các vết thương nhỏ, nông, máu chảy ra thường ít và có thể tự cầm.

Đứng trước một trường hợp có chảy máu ngoài, cần nhanh chóng làm ngừng chảy máu vì mỗi giây chậm trễ là thêm một lượng máu bị mất đi. Đặc biệt trong các tổn thương mạch máu lớn nếu xử trí chậm trễ, nạn nhân sẽ bị mất nhiều máu, có thể dẫn đến choáng và tử vong do mất máu. Tuy nhiên, khi sơ cứu chảy máu, cần áp dụng các biện pháp cầm máu tạm thời theo đúng tính chất của vết thương, không tiến hành một cách thiếu thận trọng, nhất là khi quyết định đặt garô.

Garô là biện pháp cầm máu tạm thời được áp dụng trong các vết thương ở chi có chảy máu ồ ạt mà các biện pháp cầm máu tạm thời khác không có hiệu quả.

Khi garô do sự lưu thông máu bị ngừng một thời gian nhất định nên dễ gây ra các tai biến nguy hiểm. Khi garô để quá 60 - 90 phút mà không nối garô thì đoạn chi phía dưới sẽ bị chết. Vì vậy, khi garô cần tuân theo các nguyên tắc sau:

Không đặt trực tiếp dây garô lên da nạn nhân.

Đặt garô cách mép vết thương 2cm về phía trên (đối với các vết thương nhỏ), 5 cm đối với các vết thương lớn.

Không garô chặt quá hoặc lỏng quá (chỉ garô đủ để cầm máu).

Sau 60 phút phải nới garô một lần, thời gian nới mỗi lần từ 1-2 phút.

Tổng số thời gian garô không quá 6 giờ (tổng số lần nối garô là 5 lần).

Luôn theo dõi chi đặt garô, không để cho phần chi lành phía dưới vết thương trong tình trạng thiếu nuôi dưỡng kéo dài.

Nạn nhân bị đặt garô phải được theo dõi sát và phải có phiếu garô ghi chép chi tiết, rõ ràng.

Nhanh chóng chuyển nạn nhân bị garô đến cơ sở y tế có khả năng điều trị gần nhất, nạn nhân đặt garô là ưu tiên số một trong vận chuyển và phải có nhân viên y tế hộ tống.

Quy trình kỹ thuật

Các bước tiến hành quy trình kỹ thuật băng ép

Nhận định:

Đánh giá tình trạng vết thương.

Chuẩn bị:

Gạc có bông thấm nước vô khuẩn, băng cuộn, panh hoặc kẹp phẫu tích.

Chuẩn bị nạn nhân:

Giải thích nạn nhân về công việc sắp làm.

Đặt nạn nhân ở tư thế thích hợp.

Phủ vết thương:

Dùng kẹp vô khuẩn gắp gạc phủ kín vết thương.

Băng ép:

Bắt đẩu bằng hai ròng khoá rồi

Băng xoáy ốc, mỗi vòng xoáy xiết chặt hơn bình thường. Cứ như vậy băng cho đến khí kín vết thương.

Cố định vết thương:

Cố định vết thương bằng hai vòng khoá như bình thường, sau đó gài ghim hoặc buộc nút.

Kiểm tra tuần hoàn:

Hỏi nạn nhân cảm giác ở tổ chức phía dưới vết thương.

Đánh giá tình trạng cầm máu.

Thu dọn dụng cụ:

Bỏ vào thùng rác các vật dụng bỏ đi và cất vào chỗ quy định những vật dụng có thề dùng iạị.

Ghi hồ sơ:

Tinh trạng vết thương (trước và sau băng).

Cách thức xử lý.

Ngày, giờ và tên nguời xử lý.

Các bước tiến hành quy trình kỹ thuật băng nhồi

Nhận định:

Đánh giá tình trạng vết thương, lấy dấu hiệu sính tồn.

Chuẩn bị:

Gạc có bông thấm nước vô khuẩn, miếng gạc dài, panh hoặc kẹp phẫu tích vô khuẩn, cuộn băng.

Chuẩn bị nạn nhân:

Giải thích nạn nhân về công việc sắp làm Đặt nạn nhản ỏ tữ thế thích hợp          .

Làm sạch sơ bộ vết thương:

Rửa vết thương bằng nước muối sinh lý, lấy bỏ các dị vật nếu có.

Nhồi gạc:

Dùng kẹp phẫu tích gắp một đầu gạc (dài) ấn vào sâu trong vết thương, cho đến khi đầy vết thương.

Che vết thương:

Đắp gạc có bông phu kín vết thương rồi tiến hành băng vết thương theo kiểu rắn cuốn.

Kiểm tra tuần hoàn:

Hỏi nạn nhân cảm giác đau rút tại vết thương và phía dưới vết thương.

Đánh giá tình trạng chảy máu ồ vết thương.

Thu dọn dụng cụ:

Bỏ vào thùng rác các vật dụng bỏ đi và cất vào chỗ quy định những vật dụng có thể dùng lại.

Ghi hồ sơ:

Tình trạng vết thương (trước và sau băng).

Cách thức xử lý.

Ngày, giở, và tên người xử lý.

Các bưổc tiến hành quy trình kỹ thuật gấp chi tối đa

Nhận định:

Đánh giá tình trạng vết thương, lấy dấu hiệu sinh tồn.

Chuẩn bị:

Một con chèn bằng gỗ, một cuộn băng.

Chuẩn bị nạn nhân:

Giải thích nạn nhân về công việc sắp làm Đặt nạn nhân ở tư thế thích hợp.

Đặt con chèn:

Đặt con chèn vào nếp gập khuỷu tay hoặc hõm nách hoặc khoeo chân hoặc nếp bẹn tùy theo vị trí tổn thương.

Gấp chi:

Nói nạn nhân gấp chi đến hết mức có thể hoặc giúp nạn nhân gập chi.

Cố định:

Dùng băng cuộn băng hai hoặc ba vòng chồng lên nhau rồi buộc nút lại.

Kiểm tra tuần hoàn:

Đánh giá tình trạng chảy máu ở vết thương.

Thu dọn dụng cụ:

Bỏ vào thùng rác các vật dụng bỏ đi và cất vào chỗ quy định những vật dụng có thể dùng lại.

Ghi hồ sơ:

Tình trạng vết thương (trước và sau băng).

Cách thức xử lý.

Ngày, giờ, và tên người xử lý.

Các bước tiến hành quy trình kỹ thuật garô

Nhận định:

Đánh giá tình trạng vết thương, lấy dấu hiệu sinh tồn.

Chuẩn bị:

Gạc, rộng 5 cm, dài 30 cm (cho chi trên), hoặc rộng 7cm, dài 50cm cho chi dưới; băng cao su rộng 4cm, dài 1m cho chi trên, hoặc rộng 6cm, dài 1,5m cho chi dưới.

Phiếu garô, bút đỏ, kim băng.

Hộp cấp cứu.

Chuẩn bị nạn nhân:

Giải thích nạn nhân về công việc sắp làm.

Đặt nạn nhân ở tư thế thích hợp.

Quấn gạc lót:

Quấn mảnh gạc hoặc mảnh vải vòng quanh nơi định đặt garô.

Garô:

Đặt dây garô lên trên vòng gạc rồi băng vòng. Vòng thứ nhất băng vừa phải, vòng thứ 2 chặt hơn vòng thứ nhất, vòng thứ ba chặt hơn vòng thứ 2 sao cho không thấy máu chảy ra là được.

Cố định:

 Đặt ngón tay cái vào vòng cao su phía trên động mạch đứt rồi quấn tiếp vòng thứ 4 và nâng ngón tay cái lên, dắt phần còn lại của cuộn băng vào vị trí đó để cố định garô.

Băng vết thương:

Đặt gạc lên vết thương rồi băng lại.

Viết phiếu garô:

Viết đầy đủ các nội dung trong phiếu garô bằng bút màu đỏ rồị cài lên trước ngực nạn nhân.

Chuyển nạn nhân đến bệnh viện:

Nhanh chóng chuyển nạn nhân đến bệnh viện. Nếu chuyển nạn nhân đì xa cần tuân thủ nguyên tắc nớì garô.

Nới garô:

Rút phần còn lại của cuộn băng cao su, cầm cuộn băng để cho cuộn băng từ từ lỏng dần đồng thời quan sát ngọn chi khi thấy ngọn chi hồng trở lại thi để 1-2 phút rổi garô trở lại như ban đầu.


Bài xem nhiều nhất

Kỹ thuật đặt ống thông dạ dày

Trên lâm sàng thường gặp đặt ống thông dạ dày trong hỗ trợ việc nuôi dưỡng, cho thuốc người bệnh đối với những người bị mất khả năng ăn uống bằng đường miệng.

Kỹ thuật sơ cứu gãy xương

Cho dù là gãy xương kín hay gãy xương hở thì công tác sơ cứu gãy xương cũng phải được tiến hành nhanh chóng chính xác tại nơi xảy ra tai nạn.

Kỹ thuật khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ y tế

Các phương pháp tiệt khuẩn gồm hấp ướt, hấp khô, và tiệt khuẩn bằng khí. Hấp ướt: là phương pháp thông thường và thích hợp nhất để tiệt uẩn cho tất cá các dụng cụ dùng trong các thủ thuật xâm lấn chịu được nhiệt và độ ẩm.

Thay băng vết thương và cắt chỉ

Máu vết thương người bệnh dính, phải làm ẩm bằng tưới dung dịch rửa - Vết thương khô, tháo băng theo chiều dọc vết mổ.

Rửa tay thường quy phòng ngừa nhiễm khuẩn

Trong quá trình chăm sóc và điều trị, đôi bàn tay của nhân viên y tế rất dễ bị ô nhiễm với các tác nhân gây bệnh. Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào loại thao tác và thời gian thực hiện thao tác trên người bệnh.

Kỹ thuật đặt kim luồn ngoại vi

Kỹ thuật tiêm, truyền tĩnh mạch được thực hiện bằng kim luồn ngoại vi là phương pháp tiêm, truyền tĩnh mạch sử dụng loại kim làm bằng ống nhựa mềm luồn vào trong lòng tĩnh mạch.

Kỹ thuật thông tiểu nữ

Tính chất nước tiểu bình thường là trong. Nước tiểu mới bài xuất ra thường sạch, không có cặn lắng, nước tiểu dẫn lưu qua ống thông thường trong không có cặn lắng nhưng thỉnh thoảng có một vài mảnh vụn niêm mạc.

Kỹ thuật hút đờm rãi

Kỹ thuật hút mở là kỹ thuật hút có sử dụng ống hút vô khuẩn và ống hút này được mở ra tại thời điểm hút, người điều dưỡng phải mang găng vô khuẩn khi tiến hành thủ thuật hút.

Kỹ thuật thông tiểu nam

Niệu đạo là đường dẫn nước tiểu đến bàng quang, ở nam, niệu đạo dài khoảng 20 cm dùng để vận chuyển nước tiểu và tinh dịch.

Kỹ thuật thụt tháo cho bệnh nhân

Đặt người bệnh nằm ở tư thế đúng. Giúp người bệnh nằm nghiêng sang trái với đầu gối chân phải co. Người bệnh không tự chủ, trẻ em có thể được đăt nằm ngửa.

Kỹ thuật rửa tay vô khuẩn ngoại khoa

Rửa tay ngoại khoa được áp dụng bắt buộc cho phẫu thuật viên và người phụ mổ trước khi tiến hành phẫu thuật, chuẩn bị dụng cụ vô khuẩn hay thực hiện các chăm sóc đặc biệt.

Thở ô xy qua mũi và ống mở khí quản

Liệu pháp oxy được chỉ định cho các người bệnh có biểu hiện thiếu oxy (nồng độ oxy thấp hoặc độ bão hòa oxyhemoglobin trong máu động mạch thấp).

Các biện pháp cầm máu tạm thời

Trước khi tiến hành sơ cứu mạch máu, cần phải nhận định được vết thương mạch máu thuộc động mạch, tĩnh mạch hay mao mạch.

Sát khuẩn tay bằng dung dịch cồn

Tháo đồ trang sức ở tay. Lấy khoáng 3 - 5 ml dung dịch chứa cồn vào lòng bàn tay. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau.

Kỹ thuật pha thuốc cho người bệnh

Điều dưỡng cần phải biết rõ quy trình pha thuốc và thận trọng trong thao tác để có được một bơm tiêm thuốc không bị nhiễm khuẩn và không làm giảm liều lượng của thuốc.

Thay băng rửa vết thương sạch

Điều dưỡng đi găng sạch. Chuẩn bị tư thế người bệnhTrải nilon dướì vị tri vết thươngChuẩn bị dung dịch rửa vết thương.

Thay băng rửa vết thương nhiễm khuẩn

Kiểm tra hổ sơ người bệnh. Thông bảo cho người bệnh. Nhận định tình trạng người bệnh.

Phát thuốc cho bệnh nhân và ghi chép

Lưu ý sử dụng thuốc cho trẻ em và người cao tuổi vì đặc điểm sinh lý cơ thể trên lứa tuổi này ảnh hưởng nhiều đến khả năng hấp thu, chuyển hoá và đào thải thuốc.

Kỹ thuật rửa bàng quang liên tục

Đưa dung dịch vô khuẩn vào bàng quang được chỉ định bởi bác sĩ. Đối với người bệnh có bàng quang bị nhiễm trùng, rửa bàng quang bằng cách truyền nhỏ giọt dung dịch rửa kèm kháng sinh.

Đặt ống thông vào trực tràng

Trong điều trị người ta đưa nước, chất dinh dưỡng, thuốc vào làm đại tràng giãn ra để làm lỏng phân và có thể đưa các chất dinh dưỡng, thuốc vào cơ thể qua đường ruột.

Dẫn lưu nước tiểu liên tục

Dẫn nước tiểu liên tục là dùng ống thông cố định, lưu giữ một thời gian để dẫn nước tiểu từ bàng quang vào túi đựng nước tiểu vô khuẩn. Dẫn nước tiểu liên tục giữ cho những vùng xung quanh lỗ tiểu được sạch sẽ, khô ráo, đề phòng loét, nhiễm khuẩn.

Kỹ thuật mang găng vô khuẩn

Găng tay sau khi sử dụng được coi như có khả năng lây nhiễm cao, vì vậy ngay từ khi tháo găng cần chú ý lộn mặt phải vào trong và hai găng được lồng trong nhau trước khi bỏ vào nơi quy định.

Kỹ thuật băng

Khi sử dụng băng cuộn nếu băng không đúng sẽ gây ra các thương tổn vùng mô bên dưới, vùng lân cận hoặc tạo ra sự khó chịu cho nạn nhân.

Quy trình làm sạch và rửa dụng cụ khám chữa bệnh

Dụng cụ có thể được cọ rửa bằng tay hoặc bằng máy. Mục đích của cọ rửa dụng cụ là để loại bỏ toàn bộ các chất bẩn dính trên dụng cụ, nơi ẩn náu của vi khuẩn tránh tiếp xúc với các hoá chất sát khuẩn.

Sử dụng bô vịt, bô bẹt cho bệnh nhân

Kỹ thuật sử dụng bô vịt, bô dẹt rất an toàn và ít khi gây tai biến nếu thực hiện đúng kỹ thuật trong suôt quá trình thực hiện thủ thuật.