Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân viêm thận bể thận


Ngày: 31 - 8 - 2013

Bệnh nhân thường có tiền sử về bệnh thận và tiết niệu hay đang bị một bệnh lý toàn thân, đột nhiên sốt cao, rét run, đau vùng hông một hay hai bên. Nhiều trường hợp xuất hiện một cơn đau quặn thận điển hình.

Bệnh học viêm thận bể thận

Viêm thận bể thận là một bệnh khá phổ biến đối với các bệnh lý về hệ thống thận và tiết niệu. Viêm thận bể thận là do tình trạng nhiễm khuẩn các đài bể thận và tổ chức kẽ thận. Bệnh có thể cấp tính hay mạn tính tuỳ từng giai đoạn, tiến triển ngày càng nặng dần hậu quả cuối cùng có thể dẫn đến suy thận nếu không được điều trị tốt.

Nguyên nhân

Nguyên nhân viêm thận bể thận cấp hay mạn tính thường do nhiễm trùng ngược dòng, có thể theo đường máu. Thường gặp là E.Coli, Enterococcus, Klebsiella. Ngoài ra có một số yếu tố thuận lợi sau:

Sỏi đường tiết niệu.

Nhiễm khuẩn huyết.

Do nhiễm khuẩn ngược dòng.

Do tiến hành các thủ thuật về đường tiết niệu không đảm bảo vô khuẩn.

Các khối u chèn ép.

U xơ tiền liệt tuyến ở đàn ông.

Có thai, nhất là những tháng cuối.

Do dị dạng đường tiết niệu.

Do nằm lâu, vệ sinh kém và cơ thể suy kiệt.

Triệu chứng lâm sàng

Bệnh nhân thường có tiền sử về bệnh thận và tiết niệu hay đang bị một bệnh lý toàn thân, đột nhiên sốt cao, rét run, đau vùng hông một hay hai bên. Nhiều trường hợp xuất hiện một cơn đau quặn thận điển hình.

Rối loạn về tiểu tiện.

Khám thấy thận lớn một hay hai bên, làm phương pháp vỗ vào vùng hông bệnh nhân đau.

Nước tiểu màu đỏ hay đục.

Nhiệt độ tăng trên 39oC, mạch nhanh.

Mất nước, da khô, lưỡi bẩn.

Huyết áp đa số là bình thường, tuy nhiên một số trường hợp có thể cao hay thấp tuỳ thuộc vào bệnh và mức độ của bệnh.

Xét nghiệm

Công thức máu: bạch cầu tăng chủ yếu là đa nhân trung tính.

Tốc độ lắng máu tăng.

Ure có thể tăng.

Cấy máu có thể gặp vi khuẩn gây bệnh, tuy nhiên tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh và tuỳ thuộc vào giai đoạn của bệnh.

Nước tiểu: protein niệu dương tính, nước tiểu có nhiều bạch cầu thoái hoá. Cấy nước tiểu tìm thấy vi khuẩn gây bệnh, phần lớn là vi khuẩn gram âm. Đây là xét nghiệm quan trọng cần phải làm sớm trước khi sử dụng kháng sinh.

Điều trị

Điều trị viêm thận bể thận cấp:

Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, nên sử dụng kháng sinh càng sớm càng tốt. Cần phối hợp hai hoặc ba loại kháng sinh để nâng cao hiệu quả điều trị. Có thể phối hợp 3 loại kháng sinh thuộc các nhóm penicillin, Nitroimidazole hoặc nhóm aminoglycoside.

Amoxilline- acide clavulanic: 1.5 g/ngày.

Gentamycine: 1mg/kg/8 giờ.

Azetronam: 1g/mỗI 12 giờ.

Ceftriaxon: 2 g/ngày.

Cotrimoxazole: 960 x 2 viên/ngày.

Offloxacine: 200mg x 2 viên/ngày.

Dùng một loại kháng sinh hoặc kết hợp hai loại, dùng đường uống hoặc đường ngoài tiêu hoá.

Loại bỏ các nguyên nhân gây cản trở đường tiểu như sỏi, các khối u...

Điều trị viêm thận bể thận mạn:

Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, nên sử dụng từng đợt khi có triệu chứng nhiễm khuẩn. Đặc biệt tránh dùng những loại kháng sinh độc cho thận.

Loại bỏ các yếu tố thuận lợi nếu có.

Tiến triển và tiên lượng

Viêm thận bể thận là một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu cao, nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời thì bệnh sẽ lành nhanh chóng. Ngược lại nếu điều trị và chăm sóc không đúng cách thì bệnh có thể tái đi tái lại nhiều lần có thể dẫn đến suy thận và cuối cùng dẫn đến tử vong do bệnh hay do biến chứng của bệnh gây nên.

Chăm sóc bệnh nhân viêm cầu thận mạn

Nhận định tình hình

Khi bệnh nhân vào điều trị tại khoa, người điều dưỡng phải có thái độ tiếp xúc tốt với bệnh nhân, quan sát và đánh giá được tình trạng của bệnh nhân, cụ thể bằng những biện pháp sau:

Đánh giá bằng hỏi bệnh:

Có bị rối loạn về tiểu tiện không?

Màu sắc của nước tiểu: màu đục hay đỏ?

Đã lần nào đi tiểu ra sỏi chưa?

Đã bị phẫu thuật hay có can thiệp gì về hệ thống thận và tiết niệu không?

Đã sử dụng thuốc gì chưa?

Trong gia đình đã có ai bị như vậy chưa?

Bị như vậy lần đầu hay lần thứ mấy?

Có bị rối loạn tiêu hoá không?

Quan sát:

Tình trạng bệnh nhân có mệt mỏi, người hốc hác không?

Tình trạng sốt.

Đau vùng hông một hoặc hai bên.

Tình trạng nước tiểu: màu sắc và số lượng.

Thăm khám:

Kiểm tra các dấu hiệu sống.

Đo số lượng và quan sát màu sắc nước tiểu.

Khám vùng thận đau, thận lớn.

Thu nhận thông tin:

Thu nhận thông tin qua gia đình của bệnh nhân.

Thu nhận qua hồ sơ bệnh án, cách thức điều trị...

Chẩn đoán điều dưỡng

Qua khai thác bệnh sử, quan sát và thu thập thông tin giúp cho người điều dưỡng có được chẩn đoán điều dưỡng, một số chẩn đoán có thể gặp như sau.

Tăng thân nhiệt do nhiễm trùng.

Đau vùng hông nghi do sỏi niệu quản.

Nước tiểu màu đỏ do viêm chảy máu đường tiết niệu.

Nguy cơ choáng nhiễm trùng do điều trị không hiệu quả.

Lập kế hoạch chăm sóc

Người điều dưỡng phân tích, tổng hợp và đúc kết các dữ kiện để xác định nhu cầu cần thiết của bệnh nhân, từ đó lập ra kế hoạch chăm sóc. Khi lập kế hoạch chăm sóc phải xem xét đến toàn trạng bệnh nhân, đề xuất vấn đề ưu tiên, vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau.

Chăm sóc cơ bản:

Để bệnh nhân nghỉ ngơi thích hợp.

Ăn đầy đủ năng lượng và uống nước đầy đủ.

Vệ sinh hàng ngày sạch sẽ.

Thực hiện các y lệnh:

Cho bệnh nhân uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định.

Làm các xét nghiệm cơ bản.

Theo dõi:

Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở nếu có bất thường phải báo bác sĩ ngay.

Theo dõi số lượng và màu sắc nước tiểu.

Theo dõi tiến triển và các biến chứng của bệnh.

Theo dõi một số xét nghiệm như: công thức bạch cầu, ure và creatinin máu, tế bào vi trùng niệu, cấy nước tiểu, protein niệu.

Giáo dục sức khoẻ:

Bệnh nhân và gia đình cần phải biết về nguyên nhân, cách phát hiện bệnh và thái độ xử trí cũng như cách chăm sóc bệnh nhân viêm thận bể thận.

Biết được tiến triển của bệnh và các biến chứng có thể xảy ra.

Thực hiện kế hoạch chăm sóc

Đặc điểm của bệnh nhân viêm thận bể thận là tình trạng nhiễm trùng, rối loạn nước và điện giải có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân.

Thực hiện chăm sóc cơ bản:

Đặt bệnh nhân nằm nghỉ ở tư thế đầu cao, phòng thoáng mát sạch sẽ.

Luôn giữ ấm cơ thể bệnh nhân, mùa đông không dùng nước lạnh tắm hay rửa.

Quan sát và theo dõi cơn đau, nếu bệnh nhân quá đau hoặc có những bất thường phải báo cho bác sĩ biết.

Chế độ ăn uống:

Nước uống: cần căn cứ vào tình trạng bệnh nhân, thường thì không có hạn chế nước uống, một số trường hợp cần phải truyền tĩnh mạch cho bệnh nhân để chống mất nước. Nếu bệnh nhân có tăng huyết áp thì cần hạn chế nước.

Ăn chất dễ tiêu, đảm bảo năng lượng và nhiều hoa quả tươi. Lượng đạm đưa vào cũng cần căn cứ vào tình trạng ure máu có ở trên bệnh nhân, bình thường lượng đạm đưa vào khoảng 1 - 2 g/ngày, nếu:

Ure máu dưới 0,5 g/l có thể cho bệnh nhân ăn nhiều đạm thực vật, ít đạm động vật. Số lượng đạm đưa trong một ngày vào khoảng 0,25 g/kg trọng lượng cơ thể.

Ure máu từ 0,5 - 1 g/l, nên dùng đạm thực vật, không dùng đạm động vật và lượng đạm đưa vào trong ngày ít hơn 0,25 g/kg trọng lượng.

Ure máu trên 1 g /l chế độ ăn chủ yếu là gluxid và một số acid amin cần thiết.

Vệ sinh hàng ngày cho bệnh nhân: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho bệnh nhân. áo, quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ.

Thực hiện các y lệnh:

Thuốc dùng: thực hiện đầy đủ các y lệnh khi dùng thuốc như: các thuốc tiêm, thuốc uống. Trong quá trình dùng thuốc nếu có bất thường phải báo cho bác sĩ biết.

Thực hiện các xét nghiệm:

Xét nghiệm về máu như: công thức máu, máu lắng, ure, creatinin, điện giải...

Các xét nghiệm khác như: siêu âm bụng, chụp film bụng không chuẩn bị.

Các xét nghiệm về nước tiểu: hàng ngày phải theo dõi kỹ số lượng nước tiểu và màu sắc. Lấy nước tiểu xét nghiệm phải đảm bảo đúng quy trình. Các xét nghiệm cần làm là: protein, ure, creatinin, cấy nước tiểu.

Theo dõi:

Dấu hiệu sinh tồn mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở của bệnh nhân.

Cơn đau quặn thận, đau vùng thận.

Tình trạng màu sắc và số lượng nước tiểu.

Theo dõi các biến chứng.

Đánh giá chăm sóc

Tình trạng bệnh nhân sau khi đã thực hiện y lệnh, thực hiện kế hoạch chăm sóc so với lúc ban đầu của người bệnh để đánh giá tình hình bệnh tật, cụ thể:

Quan sát tình trạng sốt có cải thiện không?

Tình trạng đau và rối loạn tiểu tiện có giảm không?

Quan sát số lượng, màu sắc của nước tiểu so với ban đầu.

Đánh giá mức độ giải quyết nguyên nhân.

Các dấu hiệu sinh tồn có gì bất thường hay tốt lên không?

Chăm sóc điều dưỡng cơ bảncó đáp ứng được với yêu cầu người bệnh không?

Những vấn đề sai sót hoặc thiếu cần bổ sung vào kế hoạch chăm sóc.


Bài xem nhiều nhất

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tăng huyết áp

Tăng huyết áp động mạch thường kèm theo những biến đổi về sinh lý bệnh liên quan đến hệ thần kinh giao cảm, thận, hệ renin-angiotensin và các cơ chế huyết động dịch thể khác.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tràn dịch màng phổi

Tràn dịch màng phổi chiếm tỷ lệ khá cao so với các bệnh đường hô hấp, điều trị nội khoa nhiều lúc không hiệu quả, để lại nhiều biến chứng và di chứng lâu dài, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não

Nếu nhồi máu lớn ở thân não thường tử vong, có thể gây hội chứng tháp hai bên nặng hơn là hội chứng giam hãm: liệt tứ chi, liệt dây VI, VII cả hai bên và chỉ còn động tác nhìn lên.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường

Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng. Triệu chứng chủ yếu đồng thời cũng là triệu chứng quan trọng để chẩn đoán đái tháo đường lâm sàng là tăng glucose máu, có glucose trong nước tiểu.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân viêm phế quản

Điều trị nguyên nhân đồng thời với điều trị triệu chứng: phải làm thông thoáng đường hô hấp bằng cách làm giảm tiết dịch, chống phù nề, sử dụng các thuốc long đờm, corticoid.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân suy tim

Dày thất do tăng đường kính các tế bào, tăng số lượng ti lạp thể, tăng số đơn vị co cơ mới đánh dấu giai đoạn bắt đầu sự giảm sút chức năng co bóp cơ tim.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa

Aspirin gây chảy máu dạ dày theo các cơ chế sau: Aspirin có chứa các tinh  thể acid Salysilic làm ăn mòn niêm mạc dạ dày gây loét chảy máu; Aspirin ức  chế sản xuất gastromucoprotein của niêm mạc dạ dày.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân viêm phổi thùy

Khám phổi có hội chứng đông đặc phổi điển hình (hoặc không điển hình) với rung thanh tăng, ấn các khoảng gian sườn đau, gõ đục, nghe âm phế bào giảm, âm thổi ống và ran nổ khô chung quanh vùng đông đặc.

Bài giảng điều dưỡng liệu pháp corticoid

Liệu pháp corticoid dựa trên tác dụng sinh học của các thành phần glucocorticoid tổng hợp để áp dụng trong lĩnh vực điều trị nhằm mục đích kháng viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân loét dạ dày tá tràng

Gần đây, người ta ngày càng chứng minh vai trò của Helicobacter Pylori, một xoắn khuẩn gram âm trong bệnh sinh của loét dạ dày tá tràng. Một số nguyên nhân sau thường hay gặp.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân xơ gan

Xơ gan mật nguyên phát: đây là bệnh viêm mạn tính đường mật nhỏ trong gan không nung mủ, gặp ở phụ nữ 30 - 50 tuổi, biểu hiện ứ mật mạn tính, tăng γ globulin IgM và kháng thể kháng ty lạp thể.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân suy thận mạn

Hầu hết các bệnh lý thận mạn tính dù khởi phát là bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận hay bệnh mạch thận đều có thể dẫn đến suy thận mạn.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân basedow

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhất là độ tuổi 20 - 40, ở phụ nữ chiếm ưu thế. Tỉ lệ nam /nữ từ 1/5 đến 1/7 ở vùng không bị bướu cổ địa phương. Tuy nhiên, ở vùng dịch tễ tỉ lệ này thấp hơn.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối

Các nghiên cứu về sinh học phân tử, sử dụng RT - PCR đã cho phép phát hiện ARN của virut C trong 50 - 70% huyết thanh và trong 55 - 100% tổ chức gan ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) và HbsAg(-).

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân hen phế quản

Hen phế quản là một bệnh thường gặp, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, trẻ em chiếm đa số so với người lớn, tỉ lệ 2/1. Những nghiên cứu dịch tễ học trong những năm gần đây cho thấy tần suất trung bình khoảng 5%, trẻ em dưới 5 tuổi 10%.

Xem theo danh mục