Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tăng huyết áp


Ngày: 23 - 8 - 2013

Tăng huyết áp động mạch thường kèm theo những biến đổi về sinh lý bệnh liên quan đến hệ thần kinh giao cảm, thận, hệ renin-angiotensin và các cơ chế huyết động dịch thể khác.

Bệnh học tăng huyết áp

Đại cương

Tăng huyết áp là một nguyên nhân thường gặp nhất khiến bệnh nhân đi khám và điều trị. Tại các quốc gia phát triển xuất hiện hàng loạt các yếu tố phổ biến gây tăng huyết áp như: béo phì, hút thuốc lá, ăn mặn, stress, đồng thời tuổi thọ ngày càng tăng tạo ra tỷ lệ nhiều người già bị tăng huyết áp. Tỷ lệ điều trị tốt cho tăng huyết áp tại Mỹ chỉ chiếm khoảng dưới 30%, cho dù đã có nhiều biện pháp khống chế tăng huyết áp. Tỷ lệ 2 bệnh liên quan đến tăng huyết áp ngày càng gia tăng đó là suy thận giai đoạn cuối và suy tim.

Tăng huyết áp là triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân gây nên nhưng cũng có thể đó là một bệnh tăng huyết áp. ở các nước châu Âu-Bắc Mỹ tỷ lệ tăng huyết áp trong nhân dân chiếm 15-20% ở người lớn. Cụ thể như: Benin 14%, Thái Lan: 6,8%, Zaire: 14%, Chile: 19 - 21%, Portugaise: 30%, Hoa Kỳ: 6-8%. ở Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp chung là 11% (Bộ Y Tế Việt Nam, 1989). Tỉ lệ này gia tăng đáng quan tâm vì trước 1975 tỉ lệ này ở miền Bắc Việt Nam chỉ có 1 - 3% (Đặng Văn Chung). Tại Bệnh viện Trung ương Huế năm 1980 tỉ lệ tăng huyết áp trong số các bệnh nội khoa chỉ có 1% nhưng 10 năm sau, năm 1990, đã tăng đến 10%.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (OMS) một người lớn bị tăng huyết áp thực sự nếu huyết áp tâm thu trên hoặc bằng 160 mmHg và hoặc huyết áp tâm trương trên hoặc bằng 95 mmHg. Được gọi là tăng huyết áp giới hạn khi huyết áp tâm thu từ 140 - 160 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 - 95 mmHg. Theo JNCVII được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tối đa lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và hoặc huyết áp tối thiểu lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg.

Bệnh nguyên của tăng huyết áp

Tăng huyết áp nguyên phát:

Thường chiếm tỷ lệ khá cao, theo tác giả Gifford-Weiss tỷ lệ tăng huyết áp nguyên phát chiếm đến 90%.

Tăng huyết áp thứ phát:

Bệnh thận: hay gặp là viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, thận đa nang, hẹp động mạch thận, u thận...

Nội tiết:

Bệnh vỏ tuyến thượng thận, hội chứng Cushing, hội chứng Cohn...

Bệnh tuỷ thượng thận: u tuỷ thượng thận.

Bệnh tim mạch: hẹp eo động mạch chủ, hẹp động mạch chủ bụng ở chỗ xuất phát của động mạch thận, hở van động mạch chủ.

Do thuốc: các hormon ngừa thai, cam thảo, corticoid, các thuốc chống trầm cảm.

Nhiễm độc thai nghén.

Các nguyên nhân khác: cường giáp, bệnh Beri-beri, bệnh đa hồng cầu, toan hô hấp...

Các yếu tố thuận lợi làm tăng huyết áp:

Yếu tố gia đình.

Yếu tố tâm lý - xã hội.

Yếu tố ăn uống: ăn nhiều muối, ăn ít protid, uống nhiều rượu, uống nước mềm ít Ca++, Mg++, K+. Trong đó nổi bật và được thừa nhận là sự liên quan giữa ion Na+ và tần suất bệnh tăng huyết áp. Ion Na+ làm tăng huyết áp qua trung gian gia tăng thể tích máu và nhất là qua sự co thắt mạch máu.

Cơ chế sinh bệnh của tăng huyết áp nguyên phát

Tăng huyết áp động mạch thường kèm theo những biến đổi về sinh lý bệnh liên quan đến hệ thần kinh giao cảm, thận, hệ renin-angiotensin và các cơ chế huyết động dịch thể khác.

Biến đổi về huyết động:

Tần số tim tăng, lưu lượng tim tăng dần, thời kỳ đầu có hiện tượng co mạch để phân bổ lại máu lưu thông từ ngoại vi về tim phổi do đó sức cản mạch máu cũng tăng dần. Tim có những biểu hiện tăng hoạt động bù trừ và dẫn đến dày thất trái. Huyết áp và sức cản ngoại biên toàn bộ tăng dần. Lưu lượng tim và lưu lượng tâm thu càng giảm, cuối cùng đưa đến suy tim.

Trong các biến đổi về huyết động, hệ thống động mạch thường bị tổn thương sớm cả toàn bộ. Trước kia người ta nghĩ chỉ có các tiểu động mạch bị biến đổi co mạch làm gia tăng sức cản ngoại biên. Hiện nay, người ta thấy các mạch máu lớn cũng có vai trò về huyết động học trong tăng huyết áp. Chức năng ít được biết đến của các động mạch lớn là làm giảm đi các xung động và lưu lượng máu do tim bóp ra. Do đó thông số về độ giãn động mạch, biểu thị tốt khả năng của các động mạch. Sự giảm thông số này cho thấy độ cứng của các động mạch lớn, là diễn biến của tăng huyết áp lên các động mạch và về lâu dài sẽ làm tăng công tim dẫn đến phì đại thất trái. Đồng thời việc gia tăng nhịp đập động mạch đưa đến sự tổn thương các cấu trúc đàn hồi sinh học của vách động mạch.

Tại thận, tăng sức cản mạch thận, giảm lưu lượng máu tại thận, chức năng thận suy giảm tuy trong thời gian đầu tốc độ lọc cầu thận và hoạt động chung của thận vẫn còn duy trì.

Tại não, lưu lượng vẫn giữ được thăng bằng trong một giới hạn nhất định ở thời kỳ có tăng huyết áp rõ.

Khi huyết áp tăng, sức cản ngoại biên tăng và thể tích huyết tương có xu hướng giảm cho đến khi thận suy.

Biến đổi về thần kinh:

Ở thời kỳ đầu ảnh hưởng của hệ giao cảm biểu hiện ở sự tăng tần số tim và sự tăng lưu lượng tim. Sự hoạt động của hệ thần kinh giao cảm còn biểu hiện ở lượng  catecholamin  trong  huyết  tương  và  dịch  não  tủy  như  adrenaline noradrenalin, tuy vậy nồng độ các chất này cũng rất thay đổi trong bệnh tăng huyết áp.

Hệ thần kinh tự động giao cảm được điều khiển bởi hệ thần kinh trung ương hành não -tủy sống và cả hai hệ này liên hệ nhau qua trung gian các thụ cảm áp lực. Trong tăng huyết áp các thụ cảm áp lực được điều chỉnh đến mức cao nhất và với ngưỡng nhạy cảm cao nhất.

Biến đổi về dịch thể:

Hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAA): hiện nay đã được chứng minh có vai trò quan trọng do ngoài tác dụng ngoại vi còn có tác dụng trung uơng ở não gây tăng huyết áp qua các thụ thể angiotensin II. Có tác giả chia tăng huyết áp nguyên phát dựa vào nồng độ renin cao, thấp trong huyết tương, có sự tỷ lệ nghịch giữa nồng độ renin-angiotensin II trong huyết tương và tuổi.

Angiotensin II được tổng hợp ở gan và dưới tác dụng renin sẽ tạo thành angiotensin I rồi chuyển thành angiotensine II là một chất co mạch rất mạnh và làm tăng tiết aldosteron. Sự phóng thích renin được điều khiển qua ba yếu tố:

Áp lực tưới máu thận.

Lượng Na+ đến từ ống lượn xa.

Hệ thần kinh giao cảm.

Vasopressin (ADH): có vai trò khá rõ ràng trong cơ chế sinh bệnh tăng huyết áp, tác dụng ngoại vi co mạch.

Chất prostaglandin: tác dụng trung ương làm tăng huyết áp, tác dụng ngoại vi làm giảm huyết áp.

Cơ chế sinh bệnh của tăng huyết áp thứ phát:

Tùy vào nguyên nhân gây bệnh.

Triệu chứng tăng huyết áp

Triệu chứng lâm sàng:

Bệnh nhân có thể nhức đầu, mất ngủ, hoa mắt, tim đập mạnh tuỳ từng giai đoạn.

Đo huyết áp phát hiện huyết áp tăng, có thể cả tối đa và hoặc tối thiểu.

Tìm các dấu xơ vữa động mạch ở ngoại biên.

Khám tim mạch có thể phát hiện được dấu hiệu dày thất trái: mỏm tim đập rộng, lệch khỏi vị trí bình thường hoặc phát hiện được dấu suy tim.

Khám bụng có thể phát hiện được tiếng thổi tâm thu, nếu có hẹp động mạch chủ bụng, hay động mạch thận.

Khám các dấu hiệu thần kinh để phát hiện các biến chứng của tăng huyết áp.

Khám mắt để xác định mức độ thương tổn.

Cận lâm sàng:

Xét nghiệm cần làm về máu:

Bilan lipid máu.

Đường máu.

Công thức máu.

Ure, creatinin.

Đối với nước tiểu:

Protein, tế bào vi trùng.

Đường niệu.

Một số các xét nghiệm khác:

Soi đáy mắt.

Đo điện tâm đồ.

Chụp X quang tim phổi.

Siêu âm tim.

Chụp mạch thận.

Định lượng các hormon trong huyết thanh.

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định:

Chủ yếu bằng cách đo huyết áp theo đúng các quy trình. Tuy nhiên điều quan trọng là nên tổ chức những đợt khám sức khỏe để khám xét toàn diện nhằm phát hiện sớm những trường hợp tiềm tàng hoặc chưa có triệu chứng.

Chẩn đoán giai đoạn tăng huyết áp:

Có hai cách phân giai đoạn, trong đó phân giai đoạn của tổ chức y tế thế giới chi tiết và thích hợp hơn.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1996) chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn I: tăng huyết áp thật sự nhưng không có tổn thương thực thể các cơ quan.

Giai đoạn II: có ít nhất một trong các biến đổi các cơ quan sau:

Dày thất trái: phát hiện bằng lâm sàng, X quang, điện tim, siêu âm.

Hẹp lan tỏa hay từng vùng các động mạch võng mạc (giai đoạn I và II đáy mắt của Keith-Wagener-Baker).

Thận: abumin niệu vi thể,  protein niệu, ure hoặc creatinin máu tăng nhẹ.

Có hình ảnh mảng vữa xơ động mạch trên siêu âm hoặc X quang.

Giai đoạn III: có dấu hiệu chức năng và thực thể do tổn thương các cơ quan đích:

Tim: suy tim trái, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.

Não: tai biến mạch não thoáng qua, xuất huyết não, tiểu não hoặc thân não. Bệnh não tăng huyết áp. Loạn thần do mạch não.

Đáy mắt: xuất huyết võng mạc xuất tiết có hay không có phù gai thị (giai đoạn III và IV)/các dấu hiệu này là đặc biệt của giai đoạn ác tính (giai đoạn tiến triển nhanh).

Các biểu hiện khác thường gặp ở giai đoạn III nhưng không đặc hiệu của tăng huyết áp.

Thận: creatinin huyết tương tăng rõ, suy thận.

Mạch máu: phồng tách, bít tắc động mạch, tắc động mạch ngoại biên.

Tăng huyết áp ác tính hay tăng huyết áp tiến triển nhanh là một hội chứng gồm có:

Huyết áp tối thiểu rất cao, trên 130 mmHg.

Đáy mắt giai đoạn III và IV theo Keith-Weigener.

Có biến chứng ở thận, tim, não.

Bệnh nhân trẻ tuổi dưới 40.

Tiến triển nhanh, tử vong trong vòng 2-3 năm.

Xếp loại THA theo ủy ban Quốc gia Hoa Kỳ JNC VII.

Bảng. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII năm 2003

Phân độ tăng huyết áp

Huyết áp tâm thu (mmHg)

Huyết áp tâm trương (mmHg)

Bình thường

< 120

< 80

Tiền tăng huyết áp

Tăng huyết áp độ I

Tăng huyết áp độ II

120 - 139

140 - 159

³ 160

80 - 89

90 - 99           

³100

Phân loại tăng huyết áp:

Theo tính chất:

Tăng huyết áp thường xuyên: tăng huyết áp lành tính và tăng huyết áp ác tính.

Tăng huyết áp dao động, huyết áp có lúc cao, có lúc bình thường.

Theo nguyên nhân:

Tăng huyết áp nguyên phát (vô căn).

Tăng huyết áp thứ phát.

Tiến triển và biến chứng

Tim mạch:

Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất đối với tăng huyết áp. Dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái. Để đối phó sức cản ngoại biên nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra. Dần dần suy tim trái với khó thở khi gắng sức, hen tim hoặc phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ với phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. X quang và điện tim có dấu hiệu dày thất trái.

Suy mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình hay chỉ có rối loạn nhịp. Điện tim có ST chênh xuống dưới đường đẳng điện ở các chuyển đạo trước tim, khi biến chứng nhồi máu sẽ xuất hiện sóng Q hoại tử.

Não:

Nhũn não.

Xuất huyết não.

Tai biến mạch não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú chỉ kéo dài không quá 24 giờ.

Bệnh não do tăng huyết áp với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn, nhức đầu dữ dội.

Thận:

Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh.

Xơ thận gây tình trạng suy thận dần dần.

Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây tăng huyết áp ác tính.

Ở giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu gây cường aldosteron thứ phát.

Mạch máu:

Tăng huyết áp là yếu tố sinh vữa xơ động mạch, tạo điều kiện cho sự hình thành vữa xơ động mạch.

Phồng động mạch chủ bóc tách.

Mắt:

Khám mắt rất quan trọng vì đó là dấu hiệu tốt để tiên lượng. Theo KeithWagener-Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt.

Giai đoạn 1: tiểu động mạch cứng và bóng.

Giai đoạn 2: tiểu động mạch hẹp có dấu bắt chéo (dấu Gunn).

Giai đoạn 3: xuất huyết và xuất tiết võng mạc.

Giai đoạn 4: phù lan tỏa gai thị.

Điều trị

Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp:

Để bệnh nhân nghỉ ngơi tránh xúc động.

Dùng thuốc hạ huyết áp, thuốc lợi tiểu và an thần.

Chế độ ăn uống: dùng các chất dễ tiêu, hạn chế muối và tránh dùng các chất gây kích thích.

Giải quyết nguyên nhân tăng huyết áp thứ phát.

Kiểm tra huyết áp thường xuyên để có thái độ xử trí kịp thời.

Áp dụng phác đồ điều trị theo cá nhân:

Điều trị không dùng thuốc:

Giảm cân nặng.

Hoạt động thể lực.

Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ.

Điều trị dùng thuốc: sử dụng một trong các loại thuốc:

Lợi tiểu (Trourit, Hydrochlorothiasid).

Chẹn giao cảm alpha hoặc beta.

Ức chế calci.

Ức chế men chuyển, ức chế angiotensin II.

Chăm sóc bệnh nhân bị tăng huyết áp

Nhận định tình hình

Tăng huyết áp thường là một bệnh mạn tính, tiến triển ngày càng nặng dần, nhiều biến chứng rất nguy hiểm có thể đe doạ tính mạng bệnh nhân nếu chúng ta không điều trị và chăm sóc chu đáo. Vì vậy người điều dưỡng khi tiếp xúc với bệnh nhân cần phải nhẹ nhàng, ân cần và biết thông cảm.

Đánh giá bằng cách hỏi bệnh:

Trạng thái tinh thần của bệnh nhân: lo lắng, sợ hãi...

Có biết bị tăng huyết áp không và thời gian bị tăng huyết áp?

Thuốc và cách điều trị tăng huyết áp như thế nào?

Đã bao giờ bị liệt hay bị yếu tay chân chưa?

Có hay nhức đầu, mất ngủ hay nhìn có bị mờ không?

Gần đây nhất có dùng thuốc gì không?

Có buồn nôn, nôn và rối loạn tiêu hoá không?

Có bị bệnh thận trước đây không?

Có bị sang chấn về thể chất hay tinh thần không?

Tình trạng đi tiểu: số lượng và màu sắc?

Đánh giá bằng quan sát:

Tình trạng tinh thần của bệnh nhân: mệt mỏi, tỉnh táo hay hôn mê.

Tuổi trẻ hay lớn tuổi.

Tự đi lại được hay phải giúp đỡ.

Bệnh nhân mập hay gầy.

Tình trạng phù.

Các dấu hiệu khác.

Thăm khám bệnh nhân:

Quan trọng là đo dấu hiệu sống, trong đó huyết áp là dấu quan trọng nhất, đo huyết áp nhiều lần trong ngày. Phải chú ý đến cả huyết áp tối đa và tối thiểu. Ngoài ra cần chú ý các dấu chứng khác như: tình trạng suy tim, các dấu ngoại biên, số lượng nước tiểu, tình trạng phù...

Thu nhận thông tin:

Kiểm tra hồ sơ bệnh án cũ, các thuốc đã dùng và cách sử dụng thuốc.

Thu thập thông tin qua gia đình.

Chẩn đoán điều dưỡng

Qua thu thập các nhu cầu ở bệnh nhân tăng huyết áp, thì một số chẩn đoán về điều dưỡng có thể có ở bệnh nhân tăng huyết áp.

Nhức đầu do tình trạng tăng huyết áp.

Mất ngủ do nhức đầu.

Hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu não.

Nguy cơ nhồi máu cơ tim do tăng huyết áp.

Lập kế hoạch chăm sóc

Qua khai thác các dấu chứng trên giúp cho người điều dưỡng có được các chẩn đoán chăm sóc. Người điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp và đúc kết các dữ kiện để xác định nhu cầu cần thiết của bệnh nhân, từ đó lập ra kế hoạch chăm sóc cụ thể. Khi lập kế hoạch chăm sóc phải xem xét đến toàn trạng bệnh nhân, đề xuất vấn đề ưu tiên, vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau tuỳ từng trường hợp cụ thể.

Chăm sóc cơ bản

Để bệnh nhân nghỉ ngơi, nằm ở tư thế đầu cao.

Giải thích cho bệnh nhân và gia đình về tình trạng bệnh tật.

Ăn đầy đủ năng lượng và nhiều hoa quả tươi.

Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày.

Hướng dẫn bệnh nhân cách tự theo dõi các tác dụng phụ của thuốc.

Thực hiện các y lệnh:

Cho bệnh nhân uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định.

Làm các xét nghiệm cơ bản.

Theo dõi:

Tình trạng tăng huyết áp cũng như các biến chứng của tăng huyết áp.

Theo dõi một số xét nghiệm như: bilan lipid máu, điện tim, siêu âm, soi đáy mắt.

Theo dõi tác dụng phụ của thuốc.

Giáo dục sức khoẻ:

Bệnh nhân và gia đình cần phải biết các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi làm tăng huyết áp cũng như cách phát hiện các dấu chứng tăng huyết áp, cách phòng, điều trị và theo dõi bệnh nhân tăng huyết áp.

Thực hiện kế hoạch chăm sóc

Đặc điểm của bệnh nhân tăng huyết áp là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần nếu không được điều trị và chăm sóc tốt. Bệnh để lại di chứng rất nặng và có thể tử vong do những biến chứng của bệnh hoặc do tai biến điều trị.

Thực hiện chăm sóc cơ bản:

Đặt bệnh nhân nằm nghỉ, tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ, nên tập thể dục nhẹ, đi bộ thư giãn, bơi lội.

Động viên, trấn an bệnh nhân để an tâm điều trị.

Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là tình trạng tăng huyết áp. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để theo dõi có thể từ 15 phút cho đến 2 giờ đo một lần.

Luôn giữ ấm cơ thể bệnh nhân.

Ăn uống đủ năng lượng, nhiều sinh tố và hạn chế muối dưới 5g muối, hạn chế mỡ, các chất béo động vật, kiêng rượu, thuốc lá, chè đặc.

Tránh các yếu tố kích thích cho bệnh nhân.

Vệ sinh sạch sẽ: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho bệnh nhân. áo quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ.

Thực hiện các y lệnh:

Thuốc dùng: thực hiện đầy đủ các y lệnh khi dùng thuốc, như: các thuốc tiêm, thuốc uống. Trong quá trình dùng thuốc nếu có bất thường phải báo cho bác sĩ biết.

Thực hiện các xét nghiệm: công thức máu, ure và creatinin máu, điện tim, protein niệu, soi đáy mắt, siêu âm tim và chụp X quang tim phổi.

Theo dõi:

Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở.

Tình trạng tổn thương mắt, thận và tim mạch.

Tình trạng sử dụng thuốc và các biến chứng do thuốc gây ra, đặc biệt chú ý các thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế đứng hay các thuốc hạ huyết áp mạnh.

Các biến chứng của tăng huyết áp.

Giáo dục sức khoẻ:

Giáo dục cho nệnh nhân và gia đình về các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi làm tăng huyết áp

Giáo dục cho bệnh nhân và gia đình cách phát hiện các dấu chứng tăng huyết áp, cách phòng, điều trị và theo dõi bệnh nhân tăng huyết áp.

Dự phòng cấp I: đối với những người chưa bị tăng huyết áp cần lưu ý vấn đề sinh hoạt hàng ngày nhất là các thói quen có hại sức khỏe phải khám định kỳ để phát hiện tăng huyết áp hay các bệnh liên quan. Trong đối tượng này chú ý đến những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao cho dù những lần đầu chưa phát hiện tăng huyết áp nhưng cần trao đổi tuyên truyền để phối hợp dự phòng cùng nhân viên y tế tuyến trước.

Dự phòng cấp II: đối với người đã tăng huyết áp, cần phải chặt chẽ hơn nữa trong chế độ ăn uống, nghỉ ngơi theo dõi huyết áp đều đặn và có kế hoạch điều trị ngoại trú để theo dõi tiến triển, tác dụng phụ của thuốc. Cần chú ý yếu tố kinh tế trong điều trị vì đây là một liệu trình lâu dài, tốn kém.

Có 6 cách phòng bệnh ngay từ đầu:

Tránh béo phì.

Tăng hoạt động thể lực.

Thay đổi lượng muối trong chế độ ăn (< 2,4g/ngày tương đương với khoảng 6g muối ăn natri clorid).

Thay đổi lượng rượu bia đối với những người uống quá nhiều. ủy ban quốc gia Hoa Kỳ về phòng chống tăng huyết áp JNC-VII khuyên mỗi ngày chỉ nên uống không quá 1 ounce đối với nam và 1/2 ounce đối với nữ (1 ounce khoảng 29,6 ml rượu whisky).

Bỏ hút thuốc lá.

Theo dõi huyết áp.

Khuyên bệnh nhân thay đổi lối sống:

Giảm cân nếu quá cân.

Hạn chế uống rượu: trong mỗi ngày uống không quá 30 ml ethanol, tương đương 720 ml bia, 300 ml rượu vang, 60 ml whisky đối với nam giới, nữ giới và người nhẹ cân uống bằng một nửa nam giới.

Tăng hoạt động thể lực: 30-40 phút hàng ngày.

Giảm lượng muối ăn vào.

Duy trì đủ chế độ kali qua chế độ ăn.

Duy trì calci và magnesi cần thiết.

Ngừng hút thuốc lá.

Giảm ăn các chất béo và mỡ bão hòa.

Đánh giá quá trình chăm sóc

Tình trạng bệnh nhân sau khi đã thực hiện y lệnh, thực hiện kế hoạch chăm sóc so với lúc ban đầu:

Đánh giá công tác chăm sóc và thực hiện các y lệnh đối với bệnh nhân.

Đánh giá tình trạng huyết áp.

Đánh giá các biến chứng của tăng huyết áp.

Đánh giá về tinh thần, vận động.

Đánh giá cách giải quyết các nguyên nhân.

Đánh giá chăm sóc điều dưỡng cơ bản có được thực hiện và có đáp ứng được với yêu cầu của người bệnh không?

Những vấn đề sai sót hoặc thiếu hay các nhu cầu phát sinh mới cần bổ sung vào kế hoạch chăm sóc để thực hiện trên bệnh nhân.

 


Bài xem nhiều nhất

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tăng huyết áp

Tăng huyết áp động mạch thường kèm theo những biến đổi về sinh lý bệnh liên quan đến hệ thần kinh giao cảm, thận, hệ renin-angiotensin và các cơ chế huyết động dịch thể khác.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tràn dịch màng phổi

Tràn dịch màng phổi chiếm tỷ lệ khá cao so với các bệnh đường hô hấp, điều trị nội khoa nhiều lúc không hiệu quả, để lại nhiều biến chứng và di chứng lâu dài, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não

Nếu nhồi máu lớn ở thân não thường tử vong, có thể gây hội chứng tháp hai bên nặng hơn là hội chứng giam hãm: liệt tứ chi, liệt dây VI, VII cả hai bên và chỉ còn động tác nhìn lên.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường

Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng. Triệu chứng chủ yếu đồng thời cũng là triệu chứng quan trọng để chẩn đoán đái tháo đường lâm sàng là tăng glucose máu, có glucose trong nước tiểu.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân viêm phế quản

Điều trị nguyên nhân đồng thời với điều trị triệu chứng: phải làm thông thoáng đường hô hấp bằng cách làm giảm tiết dịch, chống phù nề, sử dụng các thuốc long đờm, corticoid.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân suy tim

Dày thất do tăng đường kính các tế bào, tăng số lượng ti lạp thể, tăng số đơn vị co cơ mới đánh dấu giai đoạn bắt đầu sự giảm sút chức năng co bóp cơ tim.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa

Aspirin gây chảy máu dạ dày theo các cơ chế sau: Aspirin có chứa các tinh  thể acid Salysilic làm ăn mòn niêm mạc dạ dày gây loét chảy máu; Aspirin ức  chế sản xuất gastromucoprotein của niêm mạc dạ dày.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân viêm phổi thùy

Khám phổi có hội chứng đông đặc phổi điển hình (hoặc không điển hình) với rung thanh tăng, ấn các khoảng gian sườn đau, gõ đục, nghe âm phế bào giảm, âm thổi ống và ran nổ khô chung quanh vùng đông đặc.

Bài giảng điều dưỡng liệu pháp corticoid

Liệu pháp corticoid dựa trên tác dụng sinh học của các thành phần glucocorticoid tổng hợp để áp dụng trong lĩnh vực điều trị nhằm mục đích kháng viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân loét dạ dày tá tràng

Gần đây, người ta ngày càng chứng minh vai trò của Helicobacter Pylori, một xoắn khuẩn gram âm trong bệnh sinh của loét dạ dày tá tràng. Một số nguyên nhân sau thường hay gặp.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân xơ gan

Xơ gan mật nguyên phát: đây là bệnh viêm mạn tính đường mật nhỏ trong gan không nung mủ, gặp ở phụ nữ 30 - 50 tuổi, biểu hiện ứ mật mạn tính, tăng γ globulin IgM và kháng thể kháng ty lạp thể.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân suy thận mạn

Hầu hết các bệnh lý thận mạn tính dù khởi phát là bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận hay bệnh mạch thận đều có thể dẫn đến suy thận mạn.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân basedow

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhất là độ tuổi 20 - 40, ở phụ nữ chiếm ưu thế. Tỉ lệ nam /nữ từ 1/5 đến 1/7 ở vùng không bị bướu cổ địa phương. Tuy nhiên, ở vùng dịch tễ tỉ lệ này thấp hơn.

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân ung thư gan giai đoạn cuối

Các nghiên cứu về sinh học phân tử, sử dụng RT - PCR đã cho phép phát hiện ARN của virut C trong 50 - 70% huyết thanh và trong 55 - 100% tổ chức gan ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) và HbsAg(-).

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân hen phế quản

Hen phế quản là một bệnh thường gặp, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, trẻ em chiếm đa số so với người lớn, tỉ lệ 2/1. Những nghiên cứu dịch tễ học trong những năm gần đây cho thấy tần suất trung bình khoảng 5%, trẻ em dưới 5 tuổi 10%.

Xem theo danh mục