Điện tâm đồ thể hiện tạo nhịp tim an toàn


Ngày: 5 - 7 - 2012

Một số rối loạn nhịp tim là vô hại, mặc dù một số loại khác như nhịp nhanh thất thường rất nghiêm trọng thậm chí đe dọa đến tính mạng

Các vấn đề về nhịp tim (rối loạn nhịp tim) xảy ra khi xung điện do tim tạo ra bình thường phối hợp nhịp nhàng với nhịp tim không hoạt động đúng chức năng khiến tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc bất thường.

Tuổi tác làm gia tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim. Nó hoàn toàn có thể xảy ra ngay cả với người không có tiền sử mắc bệnh tim mạch.

Một số rối loạn nhịp tim là vô hại, mặc dù một số loại khác như nhịp nhanh thất (tim đập quá nhanh) thường rất nghiêm trọng thậm chí đe dọa đến tính mạng.

Máy tạo nhịp là một trong những liệu pháp không dùng thuốc thành công nhất và cũng xuất hiện sớm nhất trong xử lý rối loạn nhịp tim. Hàng triệu máy tạo nhịp đã đuợc ghép kể từ khi chiếc máy tạo nhịp đầu tiên được Elmquist và Senning ghép cho bệnh nhân năm 1958. Không cần phải dùng thuốc ngoại trừ trong trường hợp cấp tính trước khi ghép máy tạo nhịp vĩnh viễn hoặc tạm thời.

Máy tạo nhịp là một dụng cụ được dùng để điều chỉnh nhịp tim.

Nếu phát hiện thấy nhịp tim quá chậm, có thể ghép máy tạo nhịp vào cơ thể để thực hiện chức năng này. Một dụng cụ điện tử tự động theo dõi và điều hòa nhịp tim bằng cách chuyển xung động điện đến kích thích tim khi thấy nó đập qúa chậm.

Máy tạo nhịp bao gồm một đầu chỉnh nhịp và một bộ phận phát xung động. Máy tạo nhịp đơn một khoang chỉ có một đầu chỉnh nhịp, máy kép hai khoang có hai đầu, một đầu dẫn vào tâm nhĩ và đầu kia dẫn vào tâm thất. Máy điều nhịp khoang kép có tính sinh lý cao hơn nhưng đắt hơn. 

Các dấu hiệu bất thường về nhịp tim hiện nay đã được nắm rõ. Dấu hiệu quan trọng nhất vẫn là tắc nghẽn tim hoàn toàn và hội chứng giống như bệnh xoang chiếm 95% các ca cần cấy máy điều hòa nhịp tim tại Singapore. Trong cuộc khảo sát về máy tạo nhịp tim gần đây nhất vào năm 2005 tại Singapore, tỉ lệ cấy ghép là 91 phần triệu. Đối với dân số đang lão hoá như của chúng ta, nhu cầu cấy máy tạo nhịp tim ở Singapore chắc chắn sẽ tăng lên nhanh chóng. Tại châu Âu, Nhật Bản và Mỹ, tỉ lệ cấy ghép đã gần đến mức 300-1000 phần triệu

Điện tâm đồ thể hiện tạo nhịp tim an toàn. Phức hợp thứ năm (mũi tên) và thứ tám (mũi tên) có nhịp nhĩ theo sau bởi tạo nhịp tâm thất cố định truyền nhĩ thất (AV) khoảng 110 ms. Vào khoảng thời gian này, hoàn tất quá trình khử cực của tâm thất còn lại bởi máy tạo nhịp. Phần còn lại của phức bộ tiết lộ sự chậm trễ AV 200 ms và phức bộ tâm thất kết hợp.

 


Bài xem nhiều nhất

Điện tâm đồ bình thường

Sóng P dương, dương ở DII và các đạo trình trước ngực từ V3 đến V6 và âm ở aVR. Sóng P dương ở DI và có thể dẹt, âm hoặc dương ở aVL và aVF và DIII.

Block nhĩ thất hoàn toàn, block nhánh phải, QT kéo dài và nhịp tim nhanh thất đa hình thái ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Block nhĩ thất hoàn toàn, block nhánh phải, QT kéo dài và nhịp tim nhanh thất đa hình thái ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. 

Block nhánh phải với phì đại thất phải (trục điện tim lệch phải)

Block nhánh phải với phì đại thất phải, trục điện tim lệch phải, r' ≥ 15 mm ở đạo trình V1.

Điện tâm đồ ở bệnh nhân bị bệnh phù niêm (myxedema)

Điện tâm đồ ở bệnh nhân bị bệnh phù niêm (myxedema).

Cảm biến của máy tạo nhịp tim quá mạnh trên điện tâm đồ

Một số rối loạn nhịp tim là vô hại, mặc dù một số loại khác như nhịp nhanh thất (tim đập quá nhanh) thường rất nghiêm trọng thậm chí đe dọa đến tính mạng

Block nhánh phải và block nhánh trái trước trên điện tâm đồ

Block nhĩ thất hoàn toàn với block nhánh phải và block nhánh trái trước.

Chèn ép màng ngoài tim trên điện tâm đồ

Điện thế so le do bị chèn ép màng ngoài tim.

Cử động run cơ tạo hình ảnh điện tâm đồ

Hình ảnh điện tâm đồ do run (Parkinson).

Block nhánh trên điện tâm đồ

Hình vẽ hiển thị vị trí của block nhánh phải đặc trưng ở V1 và V6, điện tâm đồ (ECG) thay đổi với RSR và xuống của sóng S (trái) và block nhánh trái với đặc trưng ECG thay đổi ở V1 và V6, sóng S sâu, rộng, hình QRS rộng (bên phải).

Phì đại tâm thất phải và trái (hai thất) trên điện tâm đồ

Kết hợp phì đại hai tâm thất: Phì đại tâm thất phải (trục lệch phải và biên độ của sóng R > sóng S ở chuyển đạo V1) và phì đại tâm thất trái (biên độ sóng R > 21 mm ở chuyển đạo aVF).

Bệnh cơ tim phì đại trên điện tâm đồ

V5, V6 có R cao vượt quá 25mm, có thể quá 30mm ở người có thành ngực mỏng. Q hơi sâu, S vắng hoặc rất nhỏ, nhánh nội điện muộn trên 0,45 giây.

Block nhĩ thất độ 2 Mobitz loại II trên điện tâm đồ

Nhịp xoang với block nhĩ thất độ 2 Mobitz loại II, và block nhánh phải. Mũi tên chỉ ra sóng P không có QRS đi sau.

Nhồi máu cơ tim vùng trước bên trên điện tâm đồ

Nhồi máu cơ tim vùng trước bên đã được giải thích như bình thường bởi chương trình máy tính đọc điện tâm đồ.

Rung nhĩ trên điện tâm đồ

Rung nhĩ là tình trạng nhĩ không bóp nữa mà từng thớ của nó rung lên do tác động của những xung động rất nhanh (400 đến 600/ phút) và rất không đều.

Loạn nhịp xoang trên điện tâm đồ

Loạn nhịp xoang với thay đổi khoảng thời gian RP ảnh hưởng đến khoảng PR tiếp theo.

Xem theo danh mục