Nhịp nhanh thất trên điện tâm đồ

Ngày: 30 - 6 - 2012

Nhịp nhanh thất đơn dạng với phức hợp kết hợp.


Nhịp tim hơn 100 nhịp mỗi phút (BPM) ở người lớn được gọi là nhịp tim nhanh. Những gì là quá nhanh có thể phụ thuộc vào tuổi và tình trạng thể chất.

Có ba loại nhịp tim nhanh:

Nhịp tim nhanh nhĩ hoặc trên thất (SVT).

Nhịp tim nhanh xoang.

Nhịp tim nhanh thất.

Nhịp nhanh thất là nhịp tim nhanh mà bắt đầu trong buồng dưới của tim (tâm thất). Nó có thể là một nhịp tim đe dọa tính mạng và yêu cầu chẩn đoán và điều trị nhanh chóng. Các tín hiệu điện trong thất bất thường, can thiệp với các tín hiệu điện từ nút xoang nhĩ (SA) - nhịp tự nhiên của tim. Nhịp tim nhanh không cho phép đủ thời gian cho những tim nhận máu vào trước khi nó co lại để máu bơm khắp cơ thể. Nguyên nhân của nhịp tim nhanh thất thường kết hợp với rối loạn của tim - hệ thống dẫn truyền bình thường của tim. Những rối loạn này có thể bao gồm:

Thiếu oxy đến các khu vực của tim do thiếu dòng chảy máu mạch vành.

Bệnh cơ tim trong đó các cấu trúc của tim trở nên không nguyên vẹn.

Thuốc.

Sarcoidosis (bệnh viêm da hoặc ảnh hưởng đến các mô khác).

Các triệu chứng của nhịp tim nhanh thất:

Chóng mặt.

Lâng lâng.

Bất tỉnh.

Ngừng tim.

Hậu quả của nhịp tim nhanh thất:

Đây là loại rối loạn nhịp tim có thể là dung nạp tốt hoặc có thể đe dọa tính mạng. Các mức độ phụ thuộc phần lớn vào việc rối loạn chức năng tim khác, và về tấn số nhịp thất. Điều trị nhịp tim nhanh thất - loại và thời gian điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra. Nếu cần thiết, điều trị có thể bao gồm:

Có thể yêu cầu khử rung điện ngay lập tức.

Thuốc.

RF (Radiofrequency ablation). 

Phẫu thuật.

Nhịp nhanh thất đơn dạng với phức bộ kết hợp trên hình ảnh điện tâm đồ

Nhịp nhanh thất là rối loạn nhịp tim có nguồn gốc từ tâm thất, từ chỗ phân nhánh của bó His trở xuống nhưng chủ yếu là ở mạng Purkinje.

Thực chất là một chuỗi các ngoại tâm thu thất, ba ngoại tâm thu thất trở lên thì được gọi là nhịp nhanh thất.

Tấn số nhịp nhanh thất từ 120 đến 240 nhịp/ phút. Từ 250 - 300 nhịp/ phút sẽ thành cuồng động thất, và từ 350 - 600 nhịp/ phút sẽ là rung thất.

Khi cơn tim nhanh thất kéo dài trên 30 giây gọi là tim nhanh thất bền bỉ.

Phức bộ QRS thường giãn rộng > 0,14s và có móc, đoạn ST và T trái hiều với QRS.

Sóng P thường không có ở đại đa số.

 


Bài xem nhiều nhất

Điện tâm đồ bình thường

Sóng P dương, dương ở DII và các đạo trình trước ngực từ V3 đến V6 và âm ở aVR. Sóng P dương ở DI và có thể dẹt, âm hoặc dương ở aVL và aVF và DIII.

Block nhĩ thất hoàn toàn, block nhánh phải, QT kéo dài và nhịp tim nhanh thất đa hình thái ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Block nhĩ thất hoàn toàn, block nhánh phải, QT kéo dài và nhịp tim nhanh thất đa hình thái ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. 

Block nhánh phải với phì đại thất phải (trục điện tim lệch phải)

Block nhánh phải với phì đại thất phải, trục điện tim lệch phải, r' ≥ 15 mm ở đạo trình V1.

Điện tâm đồ ở bệnh nhân bị bệnh phù niêm (myxedema)

Điện tâm đồ ở bệnh nhân bị bệnh phù niêm (myxedema).

Cảm biến của máy tạo nhịp tim quá mạnh trên điện tâm đồ

Một số rối loạn nhịp tim là vô hại, mặc dù một số loại khác như nhịp nhanh thất (tim đập quá nhanh) thường rất nghiêm trọng thậm chí đe dọa đến tính mạng

Block nhánh phải và block nhánh trái trước trên điện tâm đồ

Block nhĩ thất hoàn toàn với block nhánh phải và block nhánh trái trước.

Chèn ép màng ngoài tim trên điện tâm đồ

Điện thế so le do bị chèn ép màng ngoài tim.

Cử động run cơ tạo hình ảnh điện tâm đồ

Hình ảnh điện tâm đồ do run (Parkinson).

Block nhánh trên điện tâm đồ

Hình vẽ hiển thị vị trí của block nhánh phải đặc trưng ở V1 và V6, điện tâm đồ (ECG) thay đổi với RSR và xuống của sóng S (trái) và block nhánh trái với đặc trưng ECG thay đổi ở V1 và V6, sóng S sâu, rộng, hình QRS rộng (bên phải).

Phì đại tâm thất phải và trái (hai thất) trên điện tâm đồ

Kết hợp phì đại hai tâm thất: Phì đại tâm thất phải (trục lệch phải và biên độ của sóng R > sóng S ở chuyển đạo V1) và phì đại tâm thất trái (biên độ sóng R > 21 mm ở chuyển đạo aVF).

Bệnh cơ tim phì đại trên điện tâm đồ

V5, V6 có R cao vượt quá 25mm, có thể quá 30mm ở người có thành ngực mỏng. Q hơi sâu, S vắng hoặc rất nhỏ, nhánh nội điện muộn trên 0,45 giây.

Block nhĩ thất độ 2 Mobitz loại II trên điện tâm đồ

Nhịp xoang với block nhĩ thất độ 2 Mobitz loại II, và block nhánh phải. Mũi tên chỉ ra sóng P không có QRS đi sau.

Nhồi máu cơ tim vùng trước bên trên điện tâm đồ

Nhồi máu cơ tim vùng trước bên đã được giải thích như bình thường bởi chương trình máy tính đọc điện tâm đồ.

Rung nhĩ trên điện tâm đồ

Rung nhĩ là tình trạng nhĩ không bóp nữa mà từng thớ của nó rung lên do tác động của những xung động rất nhanh (400 đến 600/ phút) và rất không đều.

Loạn nhịp xoang trên điện tâm đồ

Loạn nhịp xoang với thay đổi khoảng thời gian RP ảnh hưởng đến khoảng PR tiếp theo.

Xem theo danh mục