Phẫu thuật chẩn đoán điều trị và phòng ngừa ung thư

Ngày: 15 - 3 - 2013

Nguyên lý cơ bản trong điều trị đa mô thức là dùng các ưu điểm của phương pháp điều trị này bổ khuyết cho nhược điểm của phương pháp điều trị kia và ngược lại.


Đại cương

Là phương pháp xuất hiện sớm nhất và cho đến bây giờ nó vẫn là vũ khí quan trọng trong điều trị ung thư.

Theo thống kê của Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC) có khoảng 80% bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phẫu thuật.

Ngày nay, nhờ sự hiểu biết rõ về cơ chế bệnh sinh cũng như sự  tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị ung thư nên vai trò phẩu thuật trong ung thư trở nên đa dạng hơn, tiến bộ hơn. Xu hướng phẩu thuật hợp lý , bảo tồn tối đa các cơ quan, có phối hợp với các phương pháp điều trị khác (xạ trị, hoá trị liệu, miễn dịch...) nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người bệnh đang ngày càng được  áp dụng rộng rãi ở nhiều nước 

Ở các nước đang phát triển, do thiếu các phương tiện điều trị khác nên phẫu thuật vẫn là vũ khí được áp dụng chủ yếu.

Căn cứ vào mục đích điều trị,  các nguyên tắc phẫu thuật bệnh ung thư có thể tóm tắt theo trật tự sau:

Phẫu thuật phòng ngừa

Càng ngày người ta càng xác định được thêm những bệnh lý mà với thời gian sẽ phát triển thành ung thư. Điều trị khỏi những bệnh lý này bằng nhiều phương pháp trong đó phẫu thuật là một phương pháp chính sẽ loại bỏ được nguy cơ mắc ung thư như:

Hạ tinh hoàn lạc chỗ.

Cắt bỏ polyp đại trực tràng trước tuổi 20, phẩu thuật tổn thương viêm đại trực tràng chảy máu.

Cắt tuyến giáp phòng ngừa ung thư tuyến giáp thể tủy ở bệnh nhân Đa u tuyến nội tiết MEN II.

Cắt bỏ rộng rãi trong bệnh lý bạch sản.

Cắt bỏ tuyến vú hoặc buồng trứng do những thương tổn lành bất thường ở những gia đình có tỷ lệ ung thư vú và buồng trứng cao.

Phẫu thuật chẩn đoán

Chủ yếu là thăm dò để lấy mẫu bệnh phẩm làm xét nghiệm mô học. Gồm các loại: Chọc hút sinh thiết, khoét chóp hoặc phẫu thuật cắt bỏ sinh thiết.

Nguyên tắc:

Lấy một mẫu mô điển hình với đủ cả bờ mô bình thường.

Không sinh thiết vào mô hoại tử.

Tránh gieo cấy vào mô bình thường lân cận.

Đường rạch da sinh thiết phải nằm trong phần mô mà sẽ được cắt bỏ bởi một phẩu thuật điều trị tận gốc tiếp theo sau.

Cung cấp những thông tin lâm sàng cần thiết cho nhà giải phẫu bệnh.

Phẫu thuật đánh giá xếp hạng

Theo AJCC có các loại xếp hạng ung thư sau:

Xếp hạng lâm sàng: khám lâm sàng, sinh thiết, hình ảnh...

Xếp hạng phẫu thuật: sinh thiết hạch, mổ ngực thám sát, mổ bụng thám sát. Soi trung thất...

Xếp hạng sau phẫu thuật: khảo sát các mẫu mô lấy được sau phẫu thuật.

Xếp hạng khi điều trị lại: xếp hạng cho đợt điều trị bổ túc, hoặc điều trị lần 2.

Xếp hạng bằng tử thiết

Phẫu thuật điều trị ung thư

Phẫu thuật triệt để

Chỉ định khi khối u còn nhỏ, khu trú. Nó là cần thiết khi không có các sự hổ trợ của các phương tiện điều trị khác.

Phẫu thuật triệt căn là nhằm cắt bỏ rộng rãi u nguyên phát và các tổ chức lân cận  để đảm bảo không còn sót tổ chức u và cắt bỏ rộng tổ chức bạch huyết vùng. Còn thế nào là cắt bỏ rộng rãi thì có nhiều ý kiến khác nhau:

Nhiều tác giả cho rằng nên cắt u ít nhất là 2cm và cắt bỏ khối u và tổ chức xung quanh thành một khối. Tốt nhất là dùng phương pháp sinh thiết tức thì mới đảm bảo diện cắt không còn sót tổ chức ung thư.

Theo tổ chức chống ung thư thế giới (UICC) thì khoảng cách cắt u tối thiểu đối với một số loại ung thư như sau:

Ung thư da loại tế bào đáy: 2mm.

Ung thư lưỡi: 2cm.

Ung thư thực quản: 10 cm.

Ung thư phần mềm ( Cơ): Cắt bỏ toàn bộ nhóm cơ.

Ung thư dạ dày: 6cm.

Ung thư đại trực tràng: 3 - 6 cm.

Ung thư tuyến giáp: Cắt tuyến toàn bộ hoặc cắt thuỳ và eo tuyến giáp ( tuỳ theo giai đoạn).

Ung thư vú: Nếu U< 2cm nên cắt cách u khoảng 2 - 3cm. Nếu u >2cm nên cắt bỏ toàn bộ tuyến vú.

Phẫu thuật triệt để có thể phối hợp với các phương pháp điều trị khác:

Phẫu thuật có thể phối hợp với tia xạ trước trong và sau phẫu thuật.

Đối với u nguyên phát đường kính lớn thì nên điều trị tia xạ trước nhằm thu nhỏ khối u để dể dàng lấy bỏ.

Đối với những u khi phẫu thuật không chắc chắn lấy hết thì nên điều trị tia xạ hổ trợ sau phẫu thuật để tiêu diệt tổ chức u càn sót lại.

Phẫu thuật phối hợp với hóa chất và nội tiết: có thể dùng trước hoặc sau phẫu thuật nhằm tránh di căn toàn thân.

Có thể phối hợp phẫu thuật với tia xạ và hóa chất.

Phẫu thuật tạm thời

Chỉ định trong các trường hợp ung thư đã lan rộng, mục đích phẫu thuật có tính chất tạm thời:

Làm nhỏ u và sau đó sẽ được điều trị hổ trợ thêm bởi các phương pháp khác.

Phẫu thuật làm sạch nhằm làm cho bệnh nhân dễ chịu.

Phẫu thuật mở thông các tắc nghẽn như mở thông dạ dày, làm hậu môn nhân tạo, dẫn lưu bàng quang, đưa niệu đạo ra da, dẫn lưu thận...

Phẫu thuật cầm máu, chống đau...

Phẫu thuật điều trị tái phát và di căn Áp dụng trong một số trường hợp sau

Tái phát sau phẫu thuật lần đầu, sau điều trị tia xạ hoặc sau điều trị hóa chất.

Một số di căn xa đơn độc mà tia xạ và hóa chất ít kết quả.

Phẫu thuật tái tạo và phục hồi

Phẫu thuật không chỉ để khỏi bệnh mà con làm cho người bệnh trở lại cuộc sống bình thường. Phẩu thuật tái tạo có ý nghĩa phục hồi chức năng, sức khoẻ và thẩm mỹ.

Tạo hình vú sau phẫu thuật ung thư vú là một phẫu thuật được áp dụng khá phổ biến bằng cách sử dụng túi thanh dịch, chuyển vạt da bụng hoặc khối cơ da có cuống.

Các phẩu thuật vùng đầu mặt cổ thường kèm theo các phẫu thuật tạo hình.

Phẫu thuật cấp cứu

Trong diễn tiến tự nhỉên của từng bệnh ung thư có thể xảy ra một số tình huống phải mổ cấp cứu như chảy máu không cầm được, thủng cơ quan...

Phẫu thuật trong điều trị đa mô thức

Nguyên lý cơ bản trong điều trị đa mô thức là dùng các ưu điểm của phương pháp điều trị này bổ khuyết cho nhược điểm của phương pháp điều trị kia và ngược lại. Cơ bản là sự phối hợp giữa ba vũ khí: Xạ trị-Hoá trị-Phẫu thuật.

Thống kê chỉ ra rằng, khoảng 70% trường hợp phẫu thuật đơn lẽ thất bại do còn sót tế bào ung thư tại chỗ, tại vùng hoặc những vi di căn đã có lúc mổ. Bao gồm:

Phẫu thuật trước mổ.

Phối hợp sau mổ.

Phối hợp trong mổ.

Phẫu thuật như một công cụ hỗ trợ xạ trị, hoá trị.


Bài xem nhiều nhất

Điều trị triệu chứng trong ung thư giai đoạn cuối

Khó thở thường chiếm 70% các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Các nguyên nhân thường gặp là các bệnh ác tính ở phổi có thể gây: chèn ép đường hô hấp, xẹp thùy phổi hay nhiễm trùng, tắt nghẽn phế quản.

Điều trị giảm đau trong ung thư

Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra khái niệm bậc thang giảm đau như là một cách khuyến khích việc sử dụng thích hợp các Opioide giảm đau ở các quốc gia ít sử dụng loại thuốc này.

Khái niệm cơ bản về bệnh ung thư

Khi khối u lớn phát triển nhanh mới có các triệu chứng lâm sàng. Đau thường là triệu chứng của bệnh ung thư ở giai đoạn cuối.

Đại cương chẩn đoán bệnh ung thư

Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán ung thư mà giá trị của mỗi phương pháp tùy theo từng loại bệnh. Cần phải cân nhắc, lựa chọn phương pháp chẩn đoán thích hợp cho mỗi loại ung thư.

Thăm khám khối u

Tế bào chọc hút: dùng bơm tiêm với kim nhỏ, chọc hút trực tiếp vào khối u, hoặc có thể kết hợp chọc hút dưới sự chỉ dẫn của siêu âm. Đây là một phương pháp tốt, tiêu bản lấy chính xác.

Cơ chế bệnh sinh và quá trình tiến triển tự nhiên của ung thư

Có sự thay đổi về nhân: Nhân tăng kích thước, đa dạng, nhiều thùy, đặc biệt có những nhân khổng lồ, phân chia mạnh gọi là nhân quái, nhân chia. Màng nhân dày lên, đường viền không đều.

Hóa trị ung thư

Thời gian nhân đôi của ung thư là thời gian cần cho một khối u tăng gấp đôi số lượng tế bào. Nghiên cứu invitro cho thấy thời gian này dao động từ 15giờ cho đến 72giờ.

Các chất chỉ điểm khối u trong ung thư

Phất hiện các chất chỉ điểm khối u đã trở thành một phương pháp quan trọng được ứng dụng rông rãi trong việc sàng lọc phát hiện sớm, đánh giá kết quả điều trị, tiên lượng bệnh và theo dõi sự ổn định sau khi điều trị của nhiều loại ung thư.

Điều trị tia xạ ung thư

Tổ chức ung thư là một tập hợp nhiều tế bào ung thư ở các giai đoạn phân chia khác nhau. Tia xạ làm cho tế bào ung thư bị chết, tổ chức ung thư teo nhỏ. Những tổ chức ung thư càng nhạy cảm với tia xạ thì teo nhỏ càng nhanh.

Nguyên nhân ung thư

Nguồn tiếp xúc tia phóng xạ chủ yếu là tự nhiên từ các các tia vũ trụ, đất hoặc các vật liệu xây dựng. Nguồn tiếp xúc phóng xạ nhân tạo chủ yếu là trong chẩn đoán Y khoa.

Phòng chống ung thư

Sự nghi ngờ có mối liên hệ giữa hút thuốc lá và ung thư đã được đề cập đến từ 200 năm về trước. Báo cáo đầu tiên năm 1795 đã nêu ra mối liên hệ giữa thuốc lá và ung thư môi.

Phẫu thuật chẩn đoán điều trị và phòng ngừa ung thư

Nguyên lý cơ bản trong điều trị đa mô thức là dùng các ưu điểm của phương pháp điều trị này bổ khuyết cho nhược điểm của phương pháp điều trị kia và ngược lại.

Dich tễ học mô tả bệnh ung thư

Trong vòng 50 năm qua, ở các nước phát triển đã có những thay đổi rõ rệt tình hình mắc một số loại ung thư với sự tăng lên rõ rệt của ung thư phổi và sự giảm đi của ung thư dạ dày, ung thư cổ tử cung.