Xếp giai đoạn bệnh ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-6-7

By member of dieutri.vn

Phương pháp để tiến hành sắp xếp giai đoạn như bằng khám lâm sàng hay làm giải phẫu bệnh bệnh phẩm lấy được phải được tiến hành cẩn thận

Tiêu chuẩn hoá giai đoạn bệnh ung thư vào thời điểm chẩn đoán rất có giá trị và rất quan trọng cả về xác định tiên lượng và quyết định phương pháp điều trị ở từng bệnh nhân cụ thể. Uỷ ban hợp tác về ung thư của Mỹ (AJCC) đã đưa ra một sơ đồ phân loại đơn giản có thể sáp nhập lại để thành sự sắp xếp giai đoạn và được áp dụng trên thế giới. Sơ đồ này được thiết lập để tổng kết quá trình phát triển khối u và được xem như hệ thống TNM. Khối u nguyên phát chưa được điều trị (T) tăng dần theo kích thước u, dẫn đến di căn hạch lympho vùng (N) và cuối cùng là di căn xa (M). Khối u thường không có biểu hiện lâm sàng cho tới khi có xâm lấn tại chỗ hoặc thậm chí đã lan đến các hạch lympho vùng theo đường bạch mạch.

Xếp loại TNM được sử dụng trên lâm sàng để xác định sự lan rộng của bệnh ung thư trước khị bắt đầu điều trị. Phương pháp để tiến hành sắp xếp giai đoạn như bằng khám lâm sàng hay làm giải phẫu bệnh bệnh phẩm lấy được phải được tiến hành cẩn thận. Những loại khối u nhất định như u lympho và bệnh Hodgkin thường được sắp xếp giai đoạn bằng sơ đồ phân loại khác phản ánh lịch sử phát triển tự nhiên của loại khối u này và giúp cho chi định điều trị cụ thể.

Hệ thống TNM cho phép đánh giá bằng chữ số về sự phát triển của khối u nguyên phát (T) có hay không có và sự phát triển di căn hạch vùng (N) và có hay không có di căn xa (M). Một ví dụ về sự sắp xếp giai đoạn bệnh ung thư sử dụng hệ thống TNM áp dụng cho một bệnh cụ thể xem ở phần thảo luận về sắp xếp giai đoạn bệnh ung thư vú.

Sắp xếp giai đoạn theo cổ điển không tính đến sinh học hay sự xâm lấn của khối u vì vậy không phân biệt được tiên lượng bệnh ở các nhóm, vì lý do này, những đặc tính giải phẫu bệnh đặc hiệu được thêm vào phần đánh giá tiên lượng đối với một số khối u (thí dụ các thụ cảm estrogen và progesteron hay các chỉ số tăng sinh tế bào đối với ung thư vú; độ biệt hoá đối với sarcoma). Vì những đặc tính này trở nên được chuẩn hóa và hiểu rõ hơn, nên chúng có thể giúp chúng ta xác định sớm những bệnh nhân có tiên lượng xấu ở thời điểm còn có thể làm lợi cho bệnh nhân bằng điều trị tích cực hơn.