Các hội chứng cận ung thư: chẩn đoán và điều trị

Ngày: 2016-6-8

By member of dieutri.vn

Hội chứng cận ung thư thường được cho là do tác động chuyển hóa hoặc nội tiết lạ không liên quan đến tổ chức ung thư. Các dấu hiệu lâm sàng có thể giống với các rối loạn nội tiết, chuyển hóa máu, thần kinh cơ.

Các biểu hiện lâm sàng của ung thư thường không đặc trưng, ví dụ suy mòn, yếu ớt, sút cân, sốt hoặc do tác động tại chỗ của tăng sinh u, hoặc cả tác động tại chỗ và cả di căn xa. Cụm từ "hội chứng cận ung thư" ý nói những tác động xa của u mà không phụ thuộc vào xâm lấn trực tiếp hay các thương tổn di căn. Các hội chứng này có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ác tính và có thể gặp ở 15% các bệnh nhân ung thư.

Hội chứng cận ung thư có tầm quan trọng đáng kể bởi những lý do sau:

Chúng thường kèm theo một tăng sinh ác tính giới hạn và tạo ra bằng chứng sớm của sự hiện diện một số loại ung thư.

Quá trình của hội chứng cận ung thư thường song song với quá trình ung thư.

Do đó khi điều trị có hiệu quả sẽ giảm hội chứng và ngược lại khi ung thư tái phát sẽ làm quay trở lại các triệu chứng.

Các tác động nhiễm độc hay chuyển hóa của hội chứng có thể tạo ra đe dọa cấp tính tới cuộc sống hơn là bản thân ung thư (thí dụ tăng calci máu, giảm natri máu).

Hội chứng cận ung thư thường được cho là do tác động chuyển hóa hoặc nội tiết lạ không liên quan đến tổ chức ung thư. Các dấu hiệu lâm sàng có thể giống với các rối loạn nội tiết, chuyển hóa máu, thần kinh cơ. Cơ chế của tác động từ xa như vậy được chia làm 3 nhóm: 1) Các tác động gây ra do sản phẩm của u (ví dụ hội chứng carcinoid); 2) Các tác động do phá hủy các tổ chức bình thường bởi khối u (như tăng calci do di căn tiêu hủy xương ), và 3) Các tác động do các cơ chế còn chưa biết như các chất tiết của u chưa được phân lập hoặc phức hợp miễn dịch tuần hoàn được kích thích bởi khối u (thí dụ, bệnh xương khớp do ung thư phế quản). Thậm chí những triệu chứng không đặc hiệu như sốt, và sút cân thực sự là cận ung thư và có lẽ là do sản sinh ra các yếu tố đặc hiệu (như yếu tố loại tử u) bởi bản thân khối u.

Hội chứng ung thư liên quan tới sản xuất hormon sai lạc là trong số các loại được phổ biến nhất. Tổ chức khối u tiết ra hormon hoặc tiền hormon có trọng lượng phân tử cao hoặc thấp hơn so với các tế bào nội tiết biệt hóa bình thường. Người ta cho rằng việc sản sinh hormon sai lạc này là do hoạt hóa gen trong các tế bào ác tính mà bình thường bị đè nén của hầu hết các tế bào cơ thể. Các tế bào ung thư có thể tiết ra các yếu tố tăng trưởng đóng vai trò nội tiết để phát triển u và gây nên hội chứng cận ung thư. Một hội chứng đơn thuần như tăng calci máu, có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân.

Có thể bao gồm: 1) tiết ra các yếu tố thể dịch như là tiền thân hoặc tương sự như hormon cận giáp (protein liên quan đến hormon cận giáp (PTHrP), yếu tố hoạt hóa tế bào hủy cốt (lymphotoxin), yếu tố tăng trưởng chuyển dạng alpha, hoặc prostaglandin; hoặc 2) Phá hủy trực tiếp xương như trong di căn xương của ung thư vú. Điều trị kháng u có hiệu quả thường làm mất calci máu trở về bình thường mặc dù vẫn cần điều trị bổ sung.

Trong một số trường hợp ít gặp, đáp ứng nhanh chóng với hóa trị liệu gây độc tế bào có thể nhanh chóng làm tăng độ nặng của hội chứng cận ung thư liên quan đến việc tiêu khối u (như giảm natri máu với bài tiết hormon chống lợi niệu không hợp lý).

Loại ung thư thông thường nhất có các hội chứng cận ung thư là: ung thư phổi tế bào nhỏ. Người ta cho nó có nguồn gốc thần kinh ngoại bì.

Bảng. Các hội chứng cận ung thư và một số chất nội tiết liên quan tới ung thư