Cấp cứu hội chứng Carcinoid ác tính

Ngày: 8 - 6 - 2016

Các thuốc chống sinh tổng hợp peptide như acetate octreotide là có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng do hội chứng carcinoid, đồng thời làm giảm đáng kể mức 5HIAA trong nước tiểu.


Ung thư là một bệnh mạn tính, nhưng các tình huống cấp cứu có thể xuất hiện như là một biến chứng của xâm lấn tại chỗ (chèn ép tủy, hội chứng tĩnh mạch chủ trên, tràn dịch ác tính v.v) hoặc được sinh ra do các tác động toàn thân (tăng calci máu, nhiễm trùng cơ hội, tăng đông máu, tăng urê máu v.v). Những biến chứng này có thể là biểu hiện của ung thư và cần thiết phải ghi nhận và tìm hiểu kỹ lưỡng.

Nhận định chung

Mặc dù các khối u tế bào ưa bạc là hiếm gặp, nhưng được coi là quan trọng vì chúng tiết ra nhiều chất vận mạch. Chất vận mạch bao gồm: serotonin, histamin catecholamin, prostaglandin, và các peptite vận mạch khác. Hội chứng carcinoid thường liên quan với các khối u carcinoid của ruột non và đôi khi là các u carcinoid ở các vị trí khác như phôi và dạ dày. Các u này có khuynh hướng di căn sớm, nhưng tiến triển tương đối thầm lặng, làm cho việc kiểm soát hội chứng này khó khăn. Các hội chứng có liên quan xuất hiện trên những bệnh nhân có u tụy bài tiết peptid vận mạch gây nên ỉa chảy mất nước nặng (bệnh tả do tụy).

Biểu hiện hội chứng carcinoide gồm đỏ mặt, phù cổ và đầu (đặc biệt là carcinoid phế quản), các cơn đau bụng và ỉa chảy, co thắt phế quản, các tổn thương tim (van ba lá hoặc hẹp động mạch phổi hoặc trào ngược), giãn mạch da và tăng 5HIAA trong nước tiểu. Các triệu chứng thông thường nhất là đỏ mặt và ỉa chảy. Chẩn đoán được xác định bởi thấy 5 HIAA tăng lên trong nưốc tiểu 24 giờ. Những bệnh nhân có biểu hiện carcinoid thường bài tiết trên 25mg 5 HIAA một ngày. Một cách lý tưởng tất cả các thuốc và thức ăn giàu serotonin như chuối cần phải kiêng trước khi lấy nước tiểu 24 giờ xét nghiệm.

Điều trị cấp cứu

Điều trị cấp cứu cho những bệnh nhân carcinoid phế quản gồm prednison 15 -30mg/ngày. Cơn đau quận bụng và ỉa chảy thường được điều trị bàng tăng bù nước và diphenoxylate với atropin. Khi ỉa chảy nặng cho thuổc chống thụ cảm hitamin H1 cyproheptadin (4mg uống 3 lần ngày) hoặc thuốc chống serotonin như methysergide maleate (2mg uống 3 lần/ngày cho tới 16mg). Các thuốc khác gồm cimetidine ức chế thụ cảm H2 và phenothiazine cũng có tác dụng.

Các thuốc chống sinh tổng hợp peptide như acetate octreotide là có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng do hội chứng carcinoid, đồng thời làm giảm đáng kể mức 5HIAA trong nước tiểu. Liều octreotide trong hội chứng carcinoid là 100 - 600/µg/ngày chia thành 2 - 4 lần tiếp dưới da. Khi kịch phát, liều một lần có thể dùng 50 - 500/µg. Octreotide cũng có tác dụng trong điều trị triệu chứng do khối u tủy tiết ra peptide vận mạch một non (VlPomas). Do đó thuốc làm giảm ỉa chảy mất nước do hội chứng loại u này. Liều octreotide dùng để điều trị bệnh nhân VlPomas là 200 - 300 µg chia ra 2 - 4 lần.

Phẫu thuật là điều trị quan trọng cho carcinoid còn khu trú. hóa trị liệu được dùng cho các bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn tiến triển muộn. Các thuốc có tác dụng gồm: fluouracil, streptozocin, dacarbazin, cisplatin, doxorubicin, và α interferon.


Bài xem nhiều nhất

Các hội chứng cận ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng cận ung thư thường được cho là do tác động chuyển hóa hoặc nội tiết lạ không liên quan đến tổ chức ung thư. Các dấu hiệu lâm sàng có thể giống với các rối loạn nội tiết, chuyển hóa máu, thần kinh cơ.

Độc tính và thay đổi liều thuốc hóa chất điều trị ung thư

Giảm tiểu cầu cũng là vấn đề khi điều trị hóa chất kéo dài liều cao, và có thể làm hạn chế điều trị. Một số thuốc hiện nay đang nghiên cứu có thể giải quyết vấn đề này.

Đánh giá đáp ứng điều trị của khối u ung thư

Chụp cộng hưởng từ hiện nay là phương pháp không xâm nhập tốt nhất để đánh giá các u hố sau của não, u tủy sống, chèn ép tủy sống, các bệnh lý chậu hông, nhưng chụp cắt lớp CT cũng hiệu dụng và có thể có các thông tin bổ sung.

Một số biến chứng trong ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Tràn dịch tái phát có thể điều trị bằng dẫn lưu và gây dính. Tiêm hóa chất hoặc một thuốc gây dính vào khoang tràn dịch kèm lidocain để đỡ đau.

Xếp giai đoạn bệnh ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Xếp loại TNM được sử dụng trên lâm sàng để xác định sự lan rộng của bệnh ung thư trước khị bắt đầu điều trị. Phương pháp để tiến hành sắp xếp giai đoạn như bằng khám lâm sàng hay làm giải phẫu bệnh bệnh phẩm lấy được phải được tiến hành cẩn thận.

Cấp cứu biến chứng chèn ép tủy sống trong ung thư

Chẩn đoán nhanh chóng và điều trị sớm thương tổn chèn ép tủy là quan trọng. Các thương tổn thần kinh lúc chẩn đoán đa phần là không hồi phục, mặc dù điều trị sớm các triệu chứng thần kinh có thể đạt được hồi phục dần.

Cấp cứu biến chứng tăng Calci máu trong ung thư

Triệu chứng của tăng calci máu gồm nôn, buồn nôn, táo bón, đái nhiều, nhược cơ, giảm phản xạ, lẫn lộn, trầm cảm, run rẩy. Một số bệnh nhân không có triệu chứng.

Tỷ lệ mắc bệnh và nguyên nhân ung thư

Phần lớn các bệnh ung thư ở người lớn được cho là do sự kết hợp của các nhân tố liên quan đến lối sống và do tiếp xúc với môi trường. Các vấn đề về lối sống sẽ được đề cập ở phàn phòng bệnh cấp một.

Phòng bệnh ung thư cấp một

Hoá chất phòng bệnh là một lĩnh vực mới đầy hấp dẫn trong nghiên cứu ung thư, tập trung vào phòng bệnh ung thư bằng sử dụng các chất hoá học can thiệp vào nhiều giai đoạn phát sinh ung thư.

Cấp cứu hội chứng Carcinoid ác tính

Các thuốc chống sinh tổng hợp peptide như acetate octreotide là có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng do hội chứng carcinoid, đồng thời làm giảm đáng kể mức 5HIAA trong nước tiểu.

Hóa trị liệu bổ trợ cho các vi di căn ung thư nguyên phát

Điều trị bổ sung còn đang được nghiên cứu và chưa được chứng minh trong các ung thư hay mắc khác như ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư tuỵ.

Cấp cứu tăng acid uric máu và bệnh thận urate cấp trong ung thư

Tăng acid uric cấp xuất hiện như là một biến chứng của quá trình tăng sinh ác tính nhanh chóng, hoặc do điều trị làm tan u mạnh trong các ung thư máu như bệnh bạch cầu, u lympho, đa u tủy.

Phòng bệnh ung thư cấp hai (phát hiện sớm ung thư)

Đối với hầu hết các bệnh ung thư, giai đoạn lúc phát hiện bệnh có liên quan đến khả năng chữa bệnh, tỉ lệ chữa khỏi bệnh cao nhất khi khối u còn nhỏ và không có dấu hiệu di căn.

Điều trị ung thư nguyên phát bằng phẫu thuật và tia xạ

Hiện nay phẫu thuật có hiệu quả cả về chẩn đoán và điều trị, vì nó cho phép đánh giá giai đoạn mô bệnh học của sự phát triển và xâm lấn tại chỗ cũng như khả năng loại bỏ khối u nguyên phát.