Những tác nhân gây bệnh giống virus có thời gian tiềm tàng kéo dài (kể cả bệnh Prion)

Ngày: 5 - 3 - 2016

Chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu mà chỉ có phòng bệnh bằng cách tránh lây nhiễm từ tổ chức não bị bệnh, điện cực, dụng cụ phẫu thuật thần kinh hoặc tránh ghép giác mạc, màng cứng, dùng hormon sinh trưởng từ những tử thi bị bệnh.


Một số bệnh ở động vật do các vi sinh vật có khả năng lây truyền với tốc độ nhân lên chậm và có thời gian tiềm tàng kéo dài ở vật chủ. Chúng được gọi là những tiểu thể gây nhiễm proteinaceous kháng với hầu hết các phương pháp sửa đổi của acid nucleic và ngày càng được nhiều người nhắc tới như là “prions”. Bốn vi sinh vật đó và những sinh vật tương tự gây bệnh ở người sẽ được trình bày ở đây.

Bệnh Kuru và Creutzfeldt - Jakob là bệnh não dạng xốp dùng để chỉ những tổn thương tổ chức hệ thần kinh trung ương trên giải phẫu bệnh. Những mầm bệnh có thể lan truyền tới tổ chức não hoặc mắt của động vật linh trưởng, kể cả người. Bệnh khởi phát sau nhiều tháng tới nhiều năm bệnh ở giai đoạn tiềm tàng và có chiều hướng ngày càng xấu đi. Bệnh Kuru đã từng thịnh hành ở trung New Guinea nhưng không còn tồn tại kể từ khi không còn việc ăn thịt đồng loại. Bệnh đặc trưng bằng that điều tiểu não, run loạn vận ngôn và cảm xúc không ổn định.

Bệnh Creutzfeldt - Jakob thường biểu hiện ở người trung tuổi với giảm trí tuệ nhanh, co cứng cơ cục bộ kiểu rung giật cợ thất điều, ngủ nhiều và trên điện não đồ xuất hiện những sóng có điện thế cao kịch phát cùng những sóng chậm. Bệnh tiến triển nhanh thành câm bất động. Yếu tố nguy cơ đối với bệnh chưa được xác định, mặc dù trong 15% số trường hợp có tiền sử gia đình. Chụp cộng hưởng từ trong trường hợp điển hình cho thấy có dấu hiệu tăng tín hiệu cả hai bên não, đặc biệt là nhân đuôi và nhân bèo sẫm.

Chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu mà chỉ có phòng bệnh bằng cách tránh lây nhiễm từ tổ chức não bị bệnh, điện cực, dụng cụ phẫu thuật thần kinh hoặc tránh ghép giác mạc, màng cứng, dùng hormon sinh trưởng từ những tử thi bị bệnh. Các dụng cụ cần tiệt trùng bằng hấp ở 7,5 at trong 1 giờ. Tiệt trùng bề mặt bị nhiễm bẩn bằng hypochlorit 5% hoặc natrihydroxid 0,1 N.

Gần đây, một biến thể của bệnh Creutzfeldt - Jacob được thông báo gây ra một vụ dịch nhỏ ở Anh quốc. Bệnh nhân là những người trẻ, thời gian bị bệnh dài hơn, triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn (mặc dù triệu chứng tâm thần phổ biến hơn) và trên điện não đồ không có dấu hiệu điển hình của bệnh Creutzfeldt - Jakob kinh điển. Người ta cho rằng bệnh này là do ăn thịt bò bị nhiễm bệnh não dạng xốp ở bò (bovine spongiform encephalopathy - BSE) (bệnh bò điên). Phân tích thông kê cho thấy có sự phù hợp với nguyên nhân gây bệnh.

Viêm toàn bộ não xơ hóa bán cấp cũng là một bệnh tiến triển chậm nhưng về giải phẫu bệnh cho thấy có sự hủy hoại myelin hơn là tổn thương dạng xốp. Bệnh thường gặp ở trẻ em (tuổi trung bình khi khởi phát là 7 tuổi) với biểu hiện lâm sàng là co giật, giảm trí tuệ và bệnh hầu như gây tử vong. Mầm bệnh gần giống như virus sởi hoặc có thể chủng vaccin sởi. Kháng thể kháng sởi tăng trong dịch não tủy. Bệnh hay gặp ở các bé trai ở các vùng nông thôn mà không thể giải thích được.

Bệnh não chất trắng nhiều ổ tiến triển là một bệnh rối loạn hệ thần kinh trung ương với sự hủy myelin tiến triển chậm khác. Bệnh thường xảy ra ở những người có suy giảm miễn dịch, gồm cả những bệnh nhân AIDS. Nguyên nhân là do virus JC (JCV), một papovirus có ái tính với tế bào thần kinh đệm ít gai có myelin ở hệ thần kinh trung ương. Virus này có thể nuôi cấy và xác đinh được bằng kỹ thuật PCR từ tổ chức thần kinh trung ương ở những người nhiễm HIV và những người suy giảm miễn dịch, mặc dù nó không nhất thiết gây bệnh.


Bài xem nhiều nhất

Các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí

Dưới đây sẽ điểm qua các bệnh nhiễm khuẩn chủ yếu do các vi khuẩn kỵ khí gây ra. Điều trị chung cho các bệnh này bao gồm mổ thăm dò ngoại khoa, cắt lọc đủ rộng và dùng kháng sinh.

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (chẩn đoán và điều trị)

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương có thể được phân thành vài thể bệnh, thông thường có thể dễ phân biệt các thể bệnh với nhau nhờ xét nghiệm dịch não tủy, đây là bước đầu tiên để chẩn đoán căn nguyên.

Định hướng chẩn đoán và xử trí sốt không rõ nguyên nhân

Bệnh Still, lupus ban đỏ hệ thống, nhiễm cryoglobulin máu, viêm nút đa động mạch là các nguyên nhân tự miễn thường gặp nhất gây sốt không rõ nguyên nhân.

Bệnh do Brucella (chẩn đoán và điều trị)

Khởi phát thường đột ngột: sốt, rét run, toát mồ hôi nhưng thông thường chỉ khởi phát âm ỉ. Bệnh nhân đến khám sau nhiều tuần có mệt mỏi, sút cân, sốt nhẹ, ra mồ hôi, mệt nhanh dù làm việc nhẹ.

Nhiễm Adenovirus (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân ghép gan bị nhiễm virus có xu hướng phát triển viêm gan (typ 5), còn những người ghép tủy xương và ghép thận có xu hướng viêm phổi phát triển hoặc viêm bàng quang xuất huyết.

Sốt hồi quy (chẩn đoán và điều trị)

Vi khuẩn gây bệnh là một loại xoắn khuẩn, Borrelia recurrentis, mặc dù một số loại vi khuẩn chưa được nghiên cứu kỹ có thể gây ra bệnh tương tự. Xoắn khuẩn có thể lây truyền qua trứng từ thế hệ này của ve bọ sang thế hệ khác.

Ỉa chảy nhiễm khuẩn cấp tính (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị chủ yếu là bù nước và điện giải, trong một vài trường hợp có thể phải điều trị sốc mất nước và hỗ trợ hô hấp. Nói chung, phân lớn các trường hợp ỉa chảy cấp tính đều tự khỏi mà không cần phải điều trị đặc hiệu.

Các bệnh do lậu cầu khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Ở nam giới, lúc đầu có đái nóng, và dịch trắng hoặc ngà ở ngay đầu. Vài ba ngày sau, đái đau rõ dần và dịch tiết quy đầu vàng sẫm hơn đặc như kem, nhiều và có thể lẫn máu.

Hoại tử sinh hơi (hoại tử do trực khuẩn clostridium) (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thường khởi phát đột ngột, đau tăng nhanh tại vùng bị bệnh, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, sốt không tương xứng với mức độ nặng. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuốỉ, thường bệnh nhân bị kiệt quệ, li bì, mê sảng và đi vào hôn mê.

Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Tăng men gan và bilirubin là hay gặp. Nồng độ cryoglobulin thấp xuất hiện tới 90% các bệnh nhân. Trong trường hợp có tổn thương hệ thần kinh trung ương dịch não tủy cho thấy tăng áp lực, các tế bào lympho bất thường và protein.

Thủy đậu (varicella) và zona (herpes zoster) (chẩn đoán và điều trị)

Sốt và khó chịu thường nhẹ ở trẻ em và nặng hơn ở người lớn. Các tổn thương phỏng nước nhanh chóng vỡ ra tạo thành những vết loét nhỏ, thường xuất hiện đầu tiên ở miệng và họng.

Nhiễm khuẩn da và mô mềm do tụ cầu vàng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm da do tụ cầu vàng thường khởi đầu quanh một hay nhiều ổ viêm nang lông, và có thể khu trú để tạo thành nhọt hoặc lan rộng đến vùng da lân cận và tới các mô sâu dưới da tạo thành ung nhọt lớn.

Một số bệnh nhiễm khuẩn do Vibrio gây nên

V. vulnificus và V. alginolyticus đều không gây tiêu chảy, nhưng chủ yếu gây viêm mô tế bào dưới da và nhiễm khuẩn huyết tiên phát. Sau khi ăn sò có vi khuẩn hoặc tiếp xúc với nước biển.

Cúm (virus đường hô hấp thường gặp) (chẩn đoán và điều trị)

Có thể dùng vaccin cho những người nhiễm HIV mà vẫn an toàn. Mối lo lắng về sự hoạt hóa nhân lên của virus HIV do các yếu tố gây miễn dịch có thể là quá mức cần thiết.

Bệnh do rickettsia (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả các rickettsia đều bị ức chế bởi tetracyclin hoặc chloramphenicol. Tất cả các trường hợp nhiễm rickettsia giai đoạn đầu đáp ứng ở một vài mức độ với những thuốc này.

Viêm phổi do phế cầu (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc có các bệnh khác kèm theo cần điều trị nội trú bằng thuốc tiêm, penicillin G, 2 triệu đơn vị môi lần, ngày 6 lần.

Bệnh do Tularemia (chẩn đoán và điều trị)

Sốt, đau đầu và buồn nôn khởi phát đột ngột. Tại chỗ vết thương, nơi đường vào nổi sẩn hồng nhưng nhanh chóng trở thành vết loét. Hạch vùng sưng to, đau và có thể bị mưng mủ.

Bệnh tả (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng bù dịch khi bệnh nhẹ hoặc vừa thì uống dịch cũng đủ để làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển. Có thể tự pha lấy dịch bằng cách cho một thìa cà phê muối với 4 thìa canh đầy đường vào một lít nước sôi để nguội.

Diễn biến tự nhiên và các nguyên tắc chẩn đoán và điều trị Giang mai

Các thông số dịch não tủy trong giang mai thần kinh rất đa dạng. Các ca bệnh cổ điển thường có protein tăng, nhiều bạch cầu lympho và phản ứng VDRL dương tính.

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai (chẩn đoán và điều trị)

Giang mai ẩn là thời kỳ yên lặng sau khi các tổn thương thứ phát mất đi và trước khi các triệu chứng giang mai tái phát xuất hiện. Thời kỳ yên lặng sớm được xác định là năm thứ nhất sau khi nhiễm bệnh, khi phần lớn các tổn thương lây nhiễm tái xuất hiện.

Những hội chứng do virus epstein barr

Các virus herpes có khả năng làm biến đổi tế bào, khi nuôi cấy trong tổ chức và đi kèm với các bệnh ác tính như virus Epstein Barr gây u lympho Burkitt và carcinoma mũi hầu HHV 8 gây u lympho ở khoang của cơ thể.

Bệnh do Leptospira (chẩn đoán và điều trị)

Số lượng bạch cầu có thể bình thường hoặc tăng tới 50.000/µl với tăng chủ yếu bạch cầu đa nhân. Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện.

Bệnh Lyme (nhiễm Borrelia Lyme - chẩn đoán và điều trị)

Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Viêm màng não do não mô cầu (chẩn đoán và điều trị)

Sốt cao, rét run, đau đầu, đau lưng, đau bụng, đau đầu chi, buồn nôn và nôn đều có thể gặp. Khi bệnh nặng, bệnh nhân nhanh chóng bị lú lẫn, hoảng loạn, co giật và hôn mê.

Sốt do chuột cắn (xuắn khuẩn, bệnh Sodocu)

Sốt do chuột cắn cần được phân biệt với viêm hạch và phát ban do chuột cắn trong sốt do Streptobacillus gây nên. Về mặt lâm sàng, viêm khớp và đau cơ nặng trong bệnh do Streptobacillus ít khi thấy trong bệnh do S. minus.

Xem theo danh mục