Virus herpes typ 1 và 2 (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 3 - 3 - 2016

Các virus herpes typ 1 và 2 chủ yếu gây tổn thương ở vùng miệng tiếp đến là vùng sinh dục. Tỷ lệ huyết thanh dương tính của cả hai nhóm này tăng theo lửa tuổi, riêng đối với typ 2 tăng theo hoạt động tình dục.


Những virus này có cùng những đặc điểm quan trọng khi gây bệnh trên người. Có 8 loại virus herpes gây bệnh ở người đã được xác định, bao gồm: Herpes simplex virus HSV typ 1, HSV typ 2, virus zona (typ 3), virus Epstein - Barr gây bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng (typ 4), virus cự bào (cytomegalovirus typ 5), virus gây phát ban (typ 6), virus herpes gây bệnh ở người typ 7 (HHV- 7), virus herpes gây sarcoma Kaposi (HHV- 8).

Sơ nhiễm virus tiềm lâm sàng hay gặp hơn biểu hiện lâm sàng vì mỗi loại virus đều có giai đoạn tiềm tàng, đó là chung sống hòa bình với cơ thể con người. HSV và virus zona sống tiềm tàng tại hạch thần kinh cảm giác và khi các tổn thương tái hoạt động xuất hiện ở sự phân bố dây thần kinh cảm giác ngoại vi. Trong tình trạng cơ thể bị suy giảm miễn dịch do tia xạ, thuốc hoặc bệnh tật sự tái hoạt hóa virus gây tổn thương lan rộng đến các cơ quan nội tạng hoặc hệ thần kinh trung ương. Ở trẻ nhỏ và người suy giảm miễn dịch, bệnh có thể nặng và dẫn đến tử vong. Các virus herpes có khả năng làm biến đổi tế bào, khi nuôi cấy trong tổ chức và đi kèm với các bệnh ác tính như virus Epstein Barr gây u lympho Burkitt và carcinoma mũi hầu HHV 8 gây u lympho ở khoang của cơ thể.

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Bệnh có thể biểu hiện bằng viêm miệng đến liệt dây VII ngoại biên (liệt Bell) và viêm não.

Thời gian ủ bệnh không rõ ràng vì virus sống tiềm tàng tại hạch thần kính và táí hoạt hóa.

Thường điều trị có kết quả bằng acyclovir.

Nhận định chung

Các virus herpes typ 1 và 2 chủ yếu gây tổn thương ở vùng miệng tiếp đến là vùng sinh dục. Tỷ lệ huyết thanh dương tính của cả hai nhóm này tăng theo lửa tuổi, riêng đối với typ 2 tăng theo hoạt động tình dục. Biểu hiện điển hình của bệnh là tái hoạt hóa và nhiều yếu tố thúc đẩy tính hoạt hóa trên lâm sàng chưa được biết rõ ràng

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh ở da và niêm mạc

Virus herpes simplex typ 1 gây tổn thương nhiều ở miệng và khoang miệng (còn gọi là “herpes môi”) nhưng cũng có một số ít viêm đầu ngón tay và bộ phận tiết niệu sinh dục. Những tổn thương phỏng nước điển hình sẽ tạo thành vết loét ẩm ướt sau vài ngày. Nếu không điều trị, tổn thương được biểu mô hóa sau 2 - 3 tuần. Sơ nhiễm virus có thể không có triệu chứng. Những lần tái phát sau đó thường nhẹ hơn và tổn thương ít hơn, nhanh lành.

Virus herpes simplex typ 2, thường sống tiềm tàng ở hạch trước xương cùng, khi gây bệnh làm tổn thương nhiều ở đường sinh dục. Ở phụ nữ nhiễm virus lần đầu có thể gây viêm màng não vô khuẩn. Lây truyền không triệu chứng thường là phổ biến, đặc biệt là sau sơ nhiễm virus herpes typ 2 hoặc những lần tái phát có triệu chứng.

Chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng nhưng nuôi cấy virus từ dịch của phỏng nước hay nhuộm kháng thể huỳnh quang trực tiếp từ tổ chức của tổn thương cũng có thể giúp chẩn đoán xác định.

Bệnh ở mắt

Virus herpes simplex có thể gây viêm giác mạc, viêm mi mắt và viêm kết giác mạc. Viêm giác mạc thường là một bên, được chẩn đoán nhờ các vết loét tạo thành dải (loét giác mạc dạng đuôi gai), bắt màu khi nhuộm fluorescein. Thị lực giảm do các tổn thương lân cận giác mạc.

Nhiễm virus ở trẻ sơ sinh

Trong thời kỳ bào thai có thể nhiễm cả hai typ virus 1 và 2, gây ra những dị dạng bẩm sinh (to các cơ quan, chảy máu, dị dạng hệ thần kinh trung ương). Nhiễm herpes ở trẻ sơ sinh cũng có thể xảy ra do lây truyền từ bộ phận sinh dục của mẹ trong lúc sinh (thậm chí không hề có triệu chứng herpes ở bộ phận sinh dục của mẹ).

Viêm não, viêm màng não tái phát

Viêm não do herpes simplex biểu hiện các triệu chứng không đặc hiệu: tiền triệu giống cúm, tiếp theo là đau đầu, sốt, rối loạn hành vi, rối loạn ngôn ngữ và co giật cục bộ toàn thân. Đặc điểm phân biệt là biểu hiện tổn thương thường ở thùy thái dương (thương tổn như một khôi ở thùy thái dương trên CTscan, ổ động kinh ở thùy thái dương trên điện não đồ).

Phản ứng PCR tìm AND của HSV trong dịch não tủy giúp phát hiện sớm viêm não do HSV. PCR nhanh chóng chuyển thành dương tính ở mẫu bệnh phẩm sinh thiết não. Nếu bệnh nhân không được điều trị và có biểu hiện của hôn mê thì tỷ lệ tử vong sẽ cao, những người sống sót sẽ để lại di chứng về thần kinh. Viêm màng não lympho lành tính tái phát chủ yếu là do HBV typ 2 gây ra.

Nhiễm virus rải rác toàn thân

Nhiễm HSV lẻ tẻ điển hình hay gặp do ức chế miễn dịch hoặc tiên phát hoặc do thầy thuốc gây ra như dùng steroid hoặc hiếm hơn là có thai. Trong trường hợp này không phải luôn luôn có tổn thương da.

Liệt Bell (liệt dây thần kinh VII ngoại vi)

Đã tìm thấy liệt dây thần kinh VII ngoại vi do HSV- 1.

Viêm thực quản

Viêm thực quản xảy ra do HSV- 1 ở bệnh nhân AIDS và được chẩn đoán bằng sinh thiết qua nội soi và nuôi cấy. Chẩn đoán phân biệt chủ yếu với viêm thực quản do virus cự bào, dựa vào kích thước và độ sâu của tổn thương, (tổn thương do HSV nhỏ hơn và sâu hơn).

Bảng. Thuốc điều trị nhiễm vi rút

 

Ghi chú 1: Nói chung các chất ức chế protease gắn chặt vào protein và không thâm nhập vào dịch não tủy tốt. Số liệu cho thấy khả năng thâm nhập vào dịch não tùy của ritonavir > zidovudin = nelfinavir > saquinavir = indinavir.

Điều trị và phòng bệnh

Các thuốc ức chế sự nhân lên của virus herpes typ 1 và 2 gồm có: indoxuridin và triíluridin (dùng cho viêm giác mạc), acyclovir và vidarabin (dùng cho viêm não hoặc nhiễm virus rải rác toàn thân) và foscarnet (dùng cho bệnh tổn thương da và niêm mạc đã kháng thuốc ở những người suy giảm miễn dịch).

Bệnh ở da và niêm mạc

Dùng acyclovir uống hoặc bôi tại chỗ (loại 5%) có hiệu quả trong điều trị tổn thương da và niêm mạc ở những người suy giảm miễn dịch. Acyclovir dùng đường uống cũng có tác dụng tốt với nhiễm virus ở đường sinh dục tiên phát có triệu chứng, đặc biệt ở phụ nữ. Liều dùng 200 mg x 5 lần/ ngày có thể làm giảm tần suất cũng như mức độ nặng của lần tái phát bệnh ở vùng miệng hoặc sinh dục. Việc dùng dung dịch acyclovir 5% bôi 6 lần/ ngày có thể làm giảm lây lan, giảm đau và nhanh lành tổn thương nhưng có ít tác dụng hơn trên tổn thương tái phát hoặc mức độ tái phát của bệnh.

Bệnh nhân HIV dương tính có tổn thương trên da và niêm mạc kháng acyclovir được điều trị bằng foscarnet (acid phosphonoformic) 40 - 60 mg/ kg tiêm tĩnh mạch cứ 8 giờ một lần hoặc điển hình theo chức năng thận. Với một số ít trường hợp kháng foscarnet thì dùng phối hợp foscarnet và acyclovir. Cidofovir là đồng phân của acyclic nucleosid dùng điều trị nhiễm virus herpes và virus cự bào kháng thuốc.

Acyclovir có tác dụng dự phòng tiên phát và thứ phát. Những bệnh nhân nhiễm virus đường sinh dục tái phát nên duy trì acyclovir 600 - 800 mg/ngày, chia thành 2 - 3 liều uống trong ngày. Dùng thuốc dự phòng đặc biệt quan trọng với người bệnh tiếp xúc với tia cực tím như đi trượt tuyết hoặc du lịch thuyền buồm. Famciclovir (uống mỗi lần 250 mg, ngày dùng 2 lần) và valacyclovir (uống mỗi lần 500 mg, ngày dùng 2 lần) làm giảm tái phát của bệnh. Những bệnh nhân AIDS có tiền sử bị tổn thương da niêm mạc do virus nhóm herpes nên dùng acyclovir suốt đời.

Viêm giác mạc

Nhỏ mắt bằng trifluridin hoặc acyclovir trong 10 ngày (không dùng các corticosteroid) là phương pháp được lựa chọn.

Bệnh ở trẻ sơ sinh

Đối với trẻ sơ sinh bị bệnh, dùng acyclovir tiêm tĩnh mạch (5 mg/kg, cứ 8 giờ/ lần trong 5 ngày) có hiệu quả cho những tổn thương rải rác.

Viêm não

Vì lý do cần điều trị sớm và việc sinh thiết não rất khó khăn, nếu nghi ngờ bệnh nhân bị viêm não do HSV thì dùng acyclovir tiêm tĩnh mạch (10 mg/ kg cứ 8 giờ/ lần, trong 10 ngày hoặc hơn tùy thuộc chức năng thận). Sau đó, nếu kết quả sinh thiết não âm tính hoặc đưa ra chẩn đoán khác thì dừng thuốc lại. Trong trường hợp PCR âm tính, sinh thiết não âm tính nhưng vẫn nghi ngờ trên lâm sàng thì nên tiếp tục điều trị trong 10 ngày vì acyclovir tương đối không độc.

Nhiễm virus rải rác toàn thân

Bệnh đáp ứng tốt với acyclovir dùng đường tĩnh mạch ngay từ đầu (xem liều dứng ở phần trước).

Liệt Bell (liệt dây thần kinh VII)

Dùng acyclovir không làm thay đổi diễn biến lâm sàng của bệnh.

Viêm thực quản

Bệnh nhân nên dùng acyclovir theo đường tĩnh mạch liều 5 - 10 mg/kg ,cứ 8 giờ dùng 1 lần. Bệnh nhân AIDS nên duy trì ở liều 400 mg, ngày dùng 3 - 4 lần.

Phòng bệnh

Dùng acyclovir để phòng tái phát tổn thương trên da và niêm mạc (như trình bày ở trên). Tổn thương ở đường sinh dục tái phát nên dùng bao cao su trong khi quan hệ tình dục. Để phòng lây lan đốì với nhân viên y tế cũng như giữa các bệnh nhân với nhau trong trường hợp có tổn thương da, niêm mạc, đường sinh dục, những trường hợp tản phát cần phải cách ly, rửa tay sạch, dùng găng, áo choàng cẩn thận. Nhân viên y tế có các tổn thương hoạt động cần tránh tiếp xúc với bệnh nhân.


Bài xem nhiều nhất

Các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí

Dưới đây sẽ điểm qua các bệnh nhiễm khuẩn chủ yếu do các vi khuẩn kỵ khí gây ra. Điều trị chung cho các bệnh này bao gồm mổ thăm dò ngoại khoa, cắt lọc đủ rộng và dùng kháng sinh.

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (chẩn đoán và điều trị)

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương có thể được phân thành vài thể bệnh, thông thường có thể dễ phân biệt các thể bệnh với nhau nhờ xét nghiệm dịch não tủy, đây là bước đầu tiên để chẩn đoán căn nguyên.

Định hướng chẩn đoán và xử trí sốt không rõ nguyên nhân

Bệnh Still, lupus ban đỏ hệ thống, nhiễm cryoglobulin máu, viêm nút đa động mạch là các nguyên nhân tự miễn thường gặp nhất gây sốt không rõ nguyên nhân.

Bệnh do Brucella (chẩn đoán và điều trị)

Khởi phát thường đột ngột: sốt, rét run, toát mồ hôi nhưng thông thường chỉ khởi phát âm ỉ. Bệnh nhân đến khám sau nhiều tuần có mệt mỏi, sút cân, sốt nhẹ, ra mồ hôi, mệt nhanh dù làm việc nhẹ.

Nhiễm Adenovirus (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân ghép gan bị nhiễm virus có xu hướng phát triển viêm gan (typ 5), còn những người ghép tủy xương và ghép thận có xu hướng viêm phổi phát triển hoặc viêm bàng quang xuất huyết.

Sốt hồi quy (chẩn đoán và điều trị)

Vi khuẩn gây bệnh là một loại xoắn khuẩn, Borrelia recurrentis, mặc dù một số loại vi khuẩn chưa được nghiên cứu kỹ có thể gây ra bệnh tương tự. Xoắn khuẩn có thể lây truyền qua trứng từ thế hệ này của ve bọ sang thế hệ khác.

Ỉa chảy nhiễm khuẩn cấp tính (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị chủ yếu là bù nước và điện giải, trong một vài trường hợp có thể phải điều trị sốc mất nước và hỗ trợ hô hấp. Nói chung, phân lớn các trường hợp ỉa chảy cấp tính đều tự khỏi mà không cần phải điều trị đặc hiệu.

Các bệnh do lậu cầu khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Ở nam giới, lúc đầu có đái nóng, và dịch trắng hoặc ngà ở ngay đầu. Vài ba ngày sau, đái đau rõ dần và dịch tiết quy đầu vàng sẫm hơn đặc như kem, nhiều và có thể lẫn máu.

Hoại tử sinh hơi (hoại tử do trực khuẩn clostridium) (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thường khởi phát đột ngột, đau tăng nhanh tại vùng bị bệnh, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, sốt không tương xứng với mức độ nặng. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuốỉ, thường bệnh nhân bị kiệt quệ, li bì, mê sảng và đi vào hôn mê.

Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Tăng men gan và bilirubin là hay gặp. Nồng độ cryoglobulin thấp xuất hiện tới 90% các bệnh nhân. Trong trường hợp có tổn thương hệ thần kinh trung ương dịch não tủy cho thấy tăng áp lực, các tế bào lympho bất thường và protein.

Thủy đậu (varicella) và zona (herpes zoster) (chẩn đoán và điều trị)

Sốt và khó chịu thường nhẹ ở trẻ em và nặng hơn ở người lớn. Các tổn thương phỏng nước nhanh chóng vỡ ra tạo thành những vết loét nhỏ, thường xuất hiện đầu tiên ở miệng và họng.

Nhiễm khuẩn da và mô mềm do tụ cầu vàng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm da do tụ cầu vàng thường khởi đầu quanh một hay nhiều ổ viêm nang lông, và có thể khu trú để tạo thành nhọt hoặc lan rộng đến vùng da lân cận và tới các mô sâu dưới da tạo thành ung nhọt lớn.

Một số bệnh nhiễm khuẩn do Vibrio gây nên

V. vulnificus và V. alginolyticus đều không gây tiêu chảy, nhưng chủ yếu gây viêm mô tế bào dưới da và nhiễm khuẩn huyết tiên phát. Sau khi ăn sò có vi khuẩn hoặc tiếp xúc với nước biển.

Cúm (virus đường hô hấp thường gặp) (chẩn đoán và điều trị)

Có thể dùng vaccin cho những người nhiễm HIV mà vẫn an toàn. Mối lo lắng về sự hoạt hóa nhân lên của virus HIV do các yếu tố gây miễn dịch có thể là quá mức cần thiết.

Bệnh do rickettsia (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả các rickettsia đều bị ức chế bởi tetracyclin hoặc chloramphenicol. Tất cả các trường hợp nhiễm rickettsia giai đoạn đầu đáp ứng ở một vài mức độ với những thuốc này.

Viêm phổi do phế cầu (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc có các bệnh khác kèm theo cần điều trị nội trú bằng thuốc tiêm, penicillin G, 2 triệu đơn vị môi lần, ngày 6 lần.

Bệnh do Tularemia (chẩn đoán và điều trị)

Sốt, đau đầu và buồn nôn khởi phát đột ngột. Tại chỗ vết thương, nơi đường vào nổi sẩn hồng nhưng nhanh chóng trở thành vết loét. Hạch vùng sưng to, đau và có thể bị mưng mủ.

Bệnh tả (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng bù dịch khi bệnh nhẹ hoặc vừa thì uống dịch cũng đủ để làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển. Có thể tự pha lấy dịch bằng cách cho một thìa cà phê muối với 4 thìa canh đầy đường vào một lít nước sôi để nguội.

Diễn biến tự nhiên và các nguyên tắc chẩn đoán và điều trị Giang mai

Các thông số dịch não tủy trong giang mai thần kinh rất đa dạng. Các ca bệnh cổ điển thường có protein tăng, nhiều bạch cầu lympho và phản ứng VDRL dương tính.

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai (chẩn đoán và điều trị)

Giang mai ẩn là thời kỳ yên lặng sau khi các tổn thương thứ phát mất đi và trước khi các triệu chứng giang mai tái phát xuất hiện. Thời kỳ yên lặng sớm được xác định là năm thứ nhất sau khi nhiễm bệnh, khi phần lớn các tổn thương lây nhiễm tái xuất hiện.

Những hội chứng do virus epstein barr

Các virus herpes có khả năng làm biến đổi tế bào, khi nuôi cấy trong tổ chức và đi kèm với các bệnh ác tính như virus Epstein Barr gây u lympho Burkitt và carcinoma mũi hầu HHV 8 gây u lympho ở khoang của cơ thể.

Bệnh do Leptospira (chẩn đoán và điều trị)

Số lượng bạch cầu có thể bình thường hoặc tăng tới 50.000/µl với tăng chủ yếu bạch cầu đa nhân. Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện.

Bệnh Lyme (nhiễm Borrelia Lyme - chẩn đoán và điều trị)

Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Viêm màng não do não mô cầu (chẩn đoán và điều trị)

Sốt cao, rét run, đau đầu, đau lưng, đau bụng, đau đầu chi, buồn nôn và nôn đều có thể gặp. Khi bệnh nặng, bệnh nhân nhanh chóng bị lú lẫn, hoảng loạn, co giật và hôn mê.

Sốt do chuột cắn (xuắn khuẩn, bệnh Sodocu)

Sốt do chuột cắn cần được phân biệt với viêm hạch và phát ban do chuột cắn trong sốt do Streptobacillus gây nên. Về mặt lâm sàng, viêm khớp và đau cơ nặng trong bệnh do Streptobacillus ít khi thấy trong bệnh do S. minus.

Xem theo danh mục