Viêm màng ngoài tim co thắt: chẩn đoán và điều trị

2016-11-04 11:53 AM
X quang ngực có thể thấy kích thước tim bình thường hoặc tim to. Calci hóa màng ngoài tim cũng thường gặp và nhìn thấy rõ nhất ở tư thế nghiêng.

Viêm mạn tính co thể dẫn đến màng tim bị dày, xơ hóa và dính lại, làm hạn chế sự đổ đầy tâm trương và sinh ra tăng áp lực tĩnh mạch mạn tính. Trước đây, lao là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm màng ngoài tim co thắt, nhưng hiện nay, nó thường gặp nhiều hơn sau điều trị bằng tia xạ, phẫu thuật tim và viêm màng ngoài tim do virus.

Triệu chứng chủ yếu là khó thở tiến triển chậm, mệt mỏi, và suy yếu. Phù kéo dài, ứ máu gan và cổ trướng là những dấu hiệu thường gặp. Thăm khám cho thấy các dấu hiệu này và áp lực tĩnh mạch cảnh tăng đặc trưng với một hõm y nhanh. Dấu hiệu Kussmaul (tăng áp lực tĩnh mạch cảnh trong thì hít vào) xảy ra trong viêm màng ngoài tim có thắt và bệnh cơ tim hạn chế. Ít khi thấy mạch nghịch thường, rung nhĩ thường gặp.

X quang ngực có thể thấy kích thước tim bình thường hoặc tim to. Calci hóa màng ngoài tim cũng thường gặp và nhìn thấy rõ nhất ở tư thế nghiêng. Siêu âm cho thấy màng tim dày và các buông tim nhỏ. Chụp cắt lớp bằng máy vi tính và cộng hưởng từ hạt nhân giúp cho việc phát hiện màng tim dày và có thể nhạy hơn siêu âm.

Chẩn đoán phân biệt hàng đầu là bệnh cơ tim hạn chế và ép tim. Việc phân biệt với bệnh cơ tim hạn chế có thể khó khăn và được thực hiện tốt nhất bằng đánh giá chức năng thất trái (bị suy giảm hơn trong bệnh cơ tim), đo các thông số huyết động (cho thấy có sự ngang bằng hơn về áp lực tâm trương ở cả bốn buồng tim trong viêm màng ngoài tim co thắt) và phát hiện được sự dày lên và calci hóa màng ngoài tim.

Điều trị cấp gồm lợi tiểu nhẹ. Phẫu thuật bóc màng ngoài tim và nên được thực hiện hoàn toàn ở những bệnh nhân có triệu chứng nhưng lại có tỷ lệ tử vong tương đối cao.

Bài xem nhiều nhất

Điều trị tăng Cholesterol LDL: mỡ máu

Các chế độ ăn làm giảm cholesterol, cũng có thể có ảnh hưởng biến thiên trên các phân đoạn lipid, vi dụ, các chế độ ăn có chất béo toàn phần rất thấp.

Rung nhĩ và cuồng động nhĩ: chẩn đoán và điều trị

Chống đông bằng warfarin làm giảm biến chứng tắc nghẽn mạch ở những bệnh nhân dưới 75 tuổi. Aspirin cũng có ích ở những bệnh nhân dưới 75 tuổi.

Lipid máu và các bất thường về lipid: mỡ máu

Hai loại lipid chính trong máu là cholesterol và triglycerid, chúng được mang trong các phân tử lipoprotein, và các túi hình cầu cũng chứa cả các protein

Block nhĩ thất: chẩn đoán và điều trị

Những bệnh nhân bị blốc tim hoàn toàn từng cơn hoặc blốc dưới nút hoàn toàn mạn tính cần phải tạo nhịp vĩnh viễn, và tạo nhịp tạm thời được chỉ định nếu tạo nhịp cấy chưa được tiến hành ngay.

Đau thắt ngực: chẩn đoán và điều trị

Đau thắt ngực thường do bệnh xơ vữa các động mạch vành gây ra. Co thắt động mạch vành cũng có thể xẩy ra ở vị trí tổn thương hoặc hiếm hơn, ở những động mạch hoàn toàn bình thường.

Triglycerid máu cao: chẩn đoán và điều trị

Điều trị cơ bản với chứng tăng triglycerid là chế độ ăn, tránh dùng rượu và thức ăn béo, hạn chế calo. Sự kiểm soát các nguyên nhân thứ phát gây tăng nồng độ triglycerid cũng có thể hữu ích.

Hẹp hở van ba lá: chẩn đoán và điều trị

Hở van ba lá thứ phát do bệnh van hai lá nặng, hoặc các tổn thương tim trái khác, có thể thoái lui khi bệnh cơ sở được điều trị

Phân ly nhĩ thất và rối loạn dẫn truyền trong thất

Tiên lượng của blốc trong thất nói chung là tùy thuộc vào bệnh tim cơ sở. Ngay cả trong blổc hai phân nhanh, tỷ lệ blôc tim hoàn toàn huyền bí hoặc tiến triển tới hình thái blốc này rất thấp và tạo nhịp thường là không xác đáng.

Các rối loạn nhịp xoang, nhịp chậm và nhịp nhanh xoang

Ngoại tâm thu nhĩ và thất thường xảy ra thích ứng với nhịp chậm xoang, hiếm khi cần phải tạo nhịp nếu các triệu chứng xuất hiện liên quan với nhịp châm.

Nhịp nhanh thất và rung thất: chẩn đoán và điều trị

Nhịp nhanh thất là một biến chứng thường gặp của nhồi máu cơ tim cấp nhưng nó có thể xảy ra trong bệnh cơ tim phì đại, sa van hai lá, viêm cơ tim và trong hầu hết các hình thái khác của bệnh cơ tim.