Phụ thuộc cần sa (marijuana) (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 20 - 1 - 2016

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Cannabis sativa, một loại cây gai dầu là nguồn cung cấp cần sa. Các bộ phận của cây chứa cần sa không đều nhau. Nhiều nhất là ở nhựa ngọn cây cái khi đang ra hoa (hashich, charas), sau đó là lá khô và rễ của cây cái đang ra họa. Thấp nhất là ở các bộ phận: cành thấp, cái lá già của cây cái và toàn bộ các phần của cây đực. Thuỷ ngân cũng có thể có trong cần sa mọc ở vùng đất núi lửa. Thuốc thường dùng ở dạng hút. Tác dụng xuất hiện sau 10 - 20 phút và kéo dài 2 - 3 giờ. “Loại pha trộn” có chất lượng cao, chứa khoảng 500 mg cần sa (như vậy có khoảng 5 - 15 mg tetrahydrocannabinol với thời gian bán huỷ là 7 ngày). Cần sa ngâm vào formaldehyd sau đó phơi khô (“AMP”) có tác dụng rất đặc biệt, trong đó có gây rối loạn thần kinh tự chủ và tổn thương quá trình nhận thức nghiêm trọng nhất thời.

Với liều trung bình, cần sa tạo ra hai pha: sảng khoái mức độ nhẹ sau đó là buồn ngủ. Trong trạng thái cấp tính, người dùng thuốc có một số biểu hiện sai lệch nhận thức thời gian, kém kìm chế cảm xúc, có những vấn đề về tâm thần - vận động, tổn thương trí nhớ gần và sung huyết kết mạc. Liều cao sẽ gây ra các tác động giống loạn thần tạm thời. Không cần phải điều trị đặc biệt ngoại trừ những trường hợp “những cuộc hành trình trắc trở” được điều trị giống như đối với người dùng thuốc gây ảo giác, cần sa thường làm trầm trọng thêm bệnh tâm thần hiện có, ảnh hưởng xấu đến các chức năng vận động, kìm hãm nhận thức, học tập của trẻ.

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Những bất thường trên điện tim là thường gặp nhưng không có bệnh tim kéo dài đi kèm với sử dụng cần sa. Sử dụng kéo dài cũng gây giảm testosteron huyết tương và giảm tinh trùng, Đối với phụ nữ, có thể có rối loạn kinh nguyệt, không phóng noãn có thể bị tổn thương nhận thức mặc dù các nghiên cứu chưa kết thúc. Những người hút cần sa mạn tính cũng là những người sử dụng các dịch vụ y tế để giải quyết các vấn đề về sức khoẻ. Cai đột ngột gây ra mất ngủ, buồn nôn, đau cơ và kích thích. Các tác động tâm thần do dùng cần sa kéo dài vẫn chưa rõ ràng. Có thể xét nghiệm nước tiểu nếu mẫu đã được lựa chọn cẩn thận. Thời gian xác định trong khoảng 4 - 6 ngày đối với người mới sử dụng và trong vòng 20 - 50 ngày đối với người dùng dài ngày.

Bài xem nhiều nhất

Tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần khác

Các rối loạn tâm thần phân liệt là nhóm các hội chứng rối loạn tư duy, khí sắc và toàn bộ hành vi cũng như là kém chọn lọc kích thích. Việc mô tả đặc điểm cũng như về mặt thuật ngữ của những rối loạn này còn đang rất tuỳ tiện và chịu ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá, xã hội và các trường phái tâm thần học khác nhau.

Rối loạn khí sắc (trầm cảm và hưng phấn) (chẩn đoán và điều trị)

Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng tâm thần phổ biến nhất ở người già là sa sút trí tuệ (hội chứng não thực thể) với các mức độ khác nhau.

Các rối loạn lo âu và rối loạn phân ly (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn hoảng loạn được đặc trưng bằng những cơn lo âu trầm trọng ngắn, hồi phục tái phát, khó dự đoán, kèm theo những biến đổi sinh lý. Cũng có thể ám ảnh sợ khoảng trống.

Các rối loạn dạng cơ thể (những hành vi bệnh tật bất thường) (chẩn đoán và điều trị)

Dễ bị thương tổn ở một hoặc vài hệ thống cơ quan và tiếp xúc với những thành viên trong gia đình có các vấn đề dạng cơ thể sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc phát triển các triệu chứng đặc biệt và cặp song hành chức năng đối lập với thực thể là một trở ngại cho điều trị.

Phụ thuộc các chất kích thích amphetamin và cocain (chẩn đoán và điều trị)

Có một số người nghiện thuốc kích thích trở nên nhạy cảm với việc sử dụng các chất kích thích sau đó. Ở những người này, chỉ cần một lượng nhỏ chất kích thích nhẹ, ví dụ như caffein cũng có thể gây các ra triệu chứng paranoid và ảo thanh.

Phụ thuộc cần sa (marijuana) (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Phụ thuộc Caffein (chẩn đoán và điều trị)

Có nhiều điểm giống nhau giữa ngộ độc caffein và rối loạn lo âu. Một điểm chung khác giữa caffein và các chất kích thích khác là chúng lại làm nặng thêm các triệu chứng của tâm thần phân liệt bù trừ và bệnh nhân hưng - trầm cảm.

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Stress và rối loạn thích ứng (rối loạn tình huống)

Từng cá nhân có thể phản ứng lại với stress bằng trạng thái lo âu hoặc trầm cảm, phát hiện các triệu chứrig thực thể, chạy trốn hoặc uống rượu, bắt đầu các vụ áp phe hay một loạt các cách khác.

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức (hội chứng não thực thể)

Các rối loạn hành vi có xu hướng thường gặp ở những trường hợp dai dẳng, thường liên quan trực tiếp đến rối loạn nhân cách hoặc khả năng dễ bị tổn thương của hệ thần kinh trung ương do tác dụng phụ của thuốc và không nhất thiết tương quan với rối loạn nhận thức.

Rối loạn nhân cách (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn nhân cách được xem như là bảng ma trận của một số vấn đề tâm thần nặng nề. Ví dụ, dạng phân liệt, có liên quan đến phân liệt; dạng né tránh, có liên quan đến một số rối loạn lo âu.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi (chẩn đoán và điều trị)

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy.

Mất ngủ (chẩn đoán và điều trị)

Người bệnh có thể phàn nàn về việc khó vào giấc ngủ hoặc khó khăn trong việc duy trì giấc ngủ, có những khoảng thức giấc trong đêm hoặc thức dậy sớm hoặc kết hợp những hiện tượng đó.