Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 20 - 1 - 2016

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy.


Các thuốc bán trôi nổi, không theo đơn (OTC - over the counter) đáng chú ý gồm có phenylpropanolamin và nhiều loại kháng histamin. Thường thường, những thuốc này được bán cùng với các thuốc giảm đau nhẹ như thuốc cảm (ví dụ, Dristan, Triaminic). Hầu hết các thuốc làm giảm ngon miệng đều là hỗn hợp của phenylpropanolamin và caffein; những thuốc này được bán trôi nổi khá nhiều, dưới cái tên “giữ tỉnh táo”, về cơ bản, tất cả những thuốc gọi là hỗ trợ cho giấc ngủ hiện nay đều là các chất kháng histamin. Scopolamin và các bromid nhìn chung đều là các sản phẩm xuất phát từ OTC.

Vấn đề chính khi sử dụng tất cả những thuốc này đều liên quan đến phenylpropanolamin có tất cả tác dụng phụ của bất kì chất kích thích nào, bao gồm thúc đẩy trạng thái lo âu, tăng tác dụng ức chế, tăng ảo thanh và ảo thị, ý tưởng paranoid và đôi khi có cả sảng. Cũng đã có những thông báo về tình trạng gây gổ và mất khả năng kiểm soát những hành vi bột phát. Rối loạn giấc ngủ cũng thường gặp thậm chí với liều thấp.

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy. Dùng lẫn rượu với các thuốc kháng histamin làm trầm trọng thêm các tác động trên hệ thần kinh trung ương.

Lạm dụng thuốc nhuận tràng đôi khi cũng dẫn đến rối loạn điện giải và có thể dẫn đến sảng. Người già và người có rối loạn ăn uống thường có khuynh hướng sử dụng thuốc nhuận tràng nhiều. Cả hai nhóm người này đều rất kém chịu đựng đốỉ với những thay đổi sinh lí.

Các steroid đồng hoá thường cũng dễ bị những người muốn tăng khối cơ bắp lạm dụng vì lí do thẩm mỹ hoặc để khoẻ hơn. Ngoài những vấn đề nội khoa, trên thực tế còn xuất hiện những hiện tượng như thay đổi cảm xúc, hung hãn và hoang tưởng paranoid. Những người này cũng dùng rượu và các chất kích thích khác nhiều hơn bình thường. Những triệu chứng cai phụ thuộc steroid bao gồm: mệt mỏi, trầm cảm, bồn chồn, mất ngủ.

Nitrit amyl, một loại thuốc có tác dụng đối với chứng đau thắt ngực đã đườc sử dụng trong nhiều năm gần đây như là một loại “tăng cực khoái”. Việc sử dụng nó không nhằm mục đích điều trị dễ gây ra thay đổi nhận thức thời gian, “gấp gáp” và sảng khoái bệnh lý mức độ nhẹ. Hiểu biết phổ biến về các tác động của hút ngay trước cực khoái đã dẫn tới tăng nhu cầu sử dụng. Các tác động chủ quan kéo dài từ 5 giây đến 15 phút. Khả năng dung nạp tăng nhanh, tuy nhiên cũng chưa có thông báo nào về các triệu chứng cai. Sau khi dừng vài ngày, khả năng đáp ứng hồi phục ở mức độ như cũ. Tác động kéo dài có thể gồm tổn thương hệ miễn dịch và cản trở hoạt động của hệ hô hấp.

Hít dung môi hoặc ngửi các chất khí (bao gồm cả khí dung) tạo ra trạng thái say giống với các thuốc gây mê dễ bay hơi. Các tác nhân này bao gồm xăng dầu, toluen, ether, dầu mỏ, khí gas dùng cho bật lửa, các chất lỏng dùng để cọ rửa, dung môi pha sơn và những dung môi khác có trong nhiều sản phẩm gia dụng (ví dụ, dung dịch đánh móng tay, bút xoá). Trạng thái ngộ độc điển hình gồm sảng khoái bệnh lí, nói líu lưỡi, ảo giác, lú lẫn. Nếu dùng liều cao, có các biểu hiện cấp tính như mất ý thức, truy hoặc suy tim phổi; tiếp xúc dai dẳng, các triệu chứng biểu hiện nhiều hơn và thường liên quan đến gan, thận, tủy xương hoặc tim. Bệnh não do chì có thể liên quan đến việc ngửi xăng pha chì. Cũng cần phải nói thêm rằng những nghiên cứu ở công nhân phải thường xuyên tiếp xúc với xăng ô tô cho thấy, có sự gia tăng đáng kể các triệu chứng suy nhược thần kinh, bao gồm mệt mỏi lo âu, thay đổi cảm xúc, giảm sút trí nhớ và những phàn nàn về cơ thể. Ở những người lạm dụng dai dẳng chất dung môi cũng thấy có các vấn đề như vậy.

Cái gọi là thuốc giả cũng là những chất tổng hợp được sản xuất lén lút trong những phòng thí nghiệm nhỏ và được sử dụng làm thuốc tiêu khiển. Hầu hết các thuốc giả thông dụng đều là những tương tự methyl của fentanyl và được dùng thay thế Heroin. MDMA (Methyllenne - Dioxymethamphetamin) và dẫn xuất của Amphetamin đôi khi được gọi là “chất gây thư giãn” cũng là một loại thuốc giả với khả năng bị lạm dụng và ngộ độc thần kinh mức độ cao. Sản xuất và sử dụng những thuốc này đang là những vấn đề phức tạp về mặt pháp lí vì những thuốc mới nhất là những thuốc chưa được phép về mặt luật pháp và do vậy cũng chưa có các test để xác định. Hơn nữa chung khiến cho các bác sĩ phải đối mặt với những triệu chứng hoàn toàn chưa biết nguyên nhân.


Bài xem nhiều nhất

Tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần khác

Các rối loạn tâm thần phân liệt là nhóm các hội chứng rối loạn tư duy, khí sắc và toàn bộ hành vi cũng như là kém chọn lọc kích thích. Việc mô tả đặc điểm cũng như về mặt thuật ngữ của những rối loạn này còn đang rất tuỳ tiện và chịu ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá, xã hội và các trường phái tâm thần học khác nhau.

Rối loạn khí sắc (trầm cảm và hưng phấn) (chẩn đoán và điều trị)

Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng tâm thần phổ biến nhất ở người già là sa sút trí tuệ (hội chứng não thực thể) với các mức độ khác nhau.

Phụ thuộc các chất kích thích amphetamin và cocain (chẩn đoán và điều trị)

Có một số người nghiện thuốc kích thích trở nên nhạy cảm với việc sử dụng các chất kích thích sau đó. Ở những người này, chỉ cần một lượng nhỏ chất kích thích nhẹ, ví dụ như caffein cũng có thể gây các ra triệu chứng paranoid và ảo thanh.

Phụ thuộc Caffein (chẩn đoán và điều trị)

Có nhiều điểm giống nhau giữa ngộ độc caffein và rối loạn lo âu. Một điểm chung khác giữa caffein và các chất kích thích khác là chúng lại làm nặng thêm các triệu chứng của tâm thần phân liệt bù trừ và bệnh nhân hưng - trầm cảm.

Phụ thuộc cần sa (marijuana) (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Các rối loạn dạng cơ thể (những hành vi bệnh tật bất thường) (chẩn đoán và điều trị)

Dễ bị thương tổn ở một hoặc vài hệ thống cơ quan và tiếp xúc với những thành viên trong gia đình có các vấn đề dạng cơ thể sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc phát triển các triệu chứng đặc biệt và cặp song hành chức năng đối lập với thực thể là một trở ngại cho điều trị.

Các rối loạn lo âu và rối loạn phân ly (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn hoảng loạn được đặc trưng bằng những cơn lo âu trầm trọng ngắn, hồi phục tái phát, khó dự đoán, kèm theo những biến đổi sinh lý. Cũng có thể ám ảnh sợ khoảng trống.

Stress và rối loạn thích ứng (rối loạn tình huống)

Từng cá nhân có thể phản ứng lại với stress bằng trạng thái lo âu hoặc trầm cảm, phát hiện các triệu chứrig thực thể, chạy trốn hoặc uống rượu, bắt đầu các vụ áp phe hay một loạt các cách khác.

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức (hội chứng não thực thể)

Các rối loạn hành vi có xu hướng thường gặp ở những trường hợp dai dẳng, thường liên quan trực tiếp đến rối loạn nhân cách hoặc khả năng dễ bị tổn thương của hệ thần kinh trung ương do tác dụng phụ của thuốc và không nhất thiết tương quan với rối loạn nhận thức.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi (chẩn đoán và điều trị)

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy.

Rối loạn nhân cách (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn nhân cách được xem như là bảng ma trận của một số vấn đề tâm thần nặng nề. Ví dụ, dạng phân liệt, có liên quan đến phân liệt; dạng né tránh, có liên quan đến một số rối loạn lo âu.

Mất ngủ (chẩn đoán và điều trị)

Người bệnh có thể phàn nàn về việc khó vào giấc ngủ hoặc khó khăn trong việc duy trì giấc ngủ, có những khoảng thức giấc trong đêm hoặc thức dậy sớm hoặc kết hợp những hiện tượng đó.

Phụ thuộc và lạm dụng rượu (nghiện rượu) (chẩn đoán và điều trị)

Nghiện rượu là một hội chứng có hai pha: vấn đề ăn uống và phụ thuộc rượu. Vấn đề uống là việc sử dụng rượu lặp đi lặp lại, thường nhằm làm dịu lo âu hoặc giải quyết những vấn đề về tình cảm khác.

Đánh giá tâm thần trong rối loạn tâm thần

Phỏng vấn gia đình về ứng xử của người bệnh với những người khác cũng có thể cung cấp thông tin quan trọng cho chẩn đoán, thậm chí có thể làm sáng tỏ bản chất của vấn đề và giúp cho cách tiếp cận điều trị phù hợp.

Phụ thuộc thuốc gây nghiện (opioid) (chẩn đoán và điều trị)

Để điều trị những trường hợp quá liều hoặc nghi quá liều có thể dùng naloxon 2 mg tiêm tĩnh mạch, nếu quá liều thì kết quả sẽ thể hiện rõ rệt trồng vòng 2 phút. Do khoảng thời gian tác dụng của naloxon ngắn hơn nhiều so với thuốc gây nghiện nên người bệnh phải được theo dõi sát.

Loạn ngủ (hành vi bất thường trong khi ngủ) (chẩn đoán và điều trị)

Cơn khiếp sợ khi ngủ là những kích thích đột ngột, kinh hoàng trong khi ngủ, thường gặp ở những cậu bé và cũng có thể ở người lớn. Nó hoàn toàn khác với cơn hoảng loạn khi ngủ.

Các phương pháp điều trị rối loạn tâm thần

Bác sĩ cần phải chống lại những áp lực mong muốn có kết quả tức thì. Trong hầu hết các trường hợp, điều trị tâm thần bao gồm cả sự tham gia tích cực của những người có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người bệnh.

Phụ thuộc các chất gây ảo giác (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị pha cấp tính chủ yếu là giúp người bệnh tránh được những hành vi thất thường có thể dẫn đến chấn thương hoặc tử vong. Một điều cần thiết khác là phải có môi trường phù hợp cho đến khi thuốc được chuyển hoá.

Ngủ nhiều (các rối loạn ngủ quá mức) (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị ngừng thở khi ngủ có thể gồm các biện pháp như giảm cân và điều hoà không khí qua mũi họng dưới áp lực liên tục trong thời gian ngủ. Kích thích cơ hoành cũng là một giải pháp hữu hiệu đối với ngừng thở khi ngủ trung ương.

Tiếp cận bệnh nhân rối loạn tâm thần

Các yếu tố môi trường và xã hội luôn được coi là những yếu tố quan trọng sống còn trong sự cân bằng tâm thần ở mỗi cá nhân. Không có sự va chạm với môi trường thì cũng không cố bệnh được xã hội thừa nhận.

Các rối loạn đau dai dẳng (chẩn đoán và điều trị)

Các thành tố của hội chứng đau dai dẳng gồm những biến đổi giải phẫu, lo âu và trầm cảm kéo dài, cáu giận và thay đổi lối sống. Thông thường những biến đổi giải phẫu là không hồi phục bởi lẽ nó phải chịu nhiều can thiệp với những hậu quả không mong muốn ngày càng gia tăng.

Phụ thuộc thuốc Phencyclidin

Các triệu chứng thực thể gồm chóng mặt, thất điều, rối loạn ngôn ngữ, rung giật nhãn cầu, co rút mí mắt trên với nhìn chằm chằm vào chỗ trống (nhìn ngây dại) tăng phản xạ và mạch nhanh.

Xem theo danh mục