Các phương pháp điều trị rối loạn tâm thần

Ngày: 16 - 1 - 2016

Bác sĩ cần phải chống lại những áp lực mong muốn có kết quả tức thì. Trong hầu hết các trường hợp, điều trị tâm thần bao gồm cả sự tham gia tích cực của những người có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người bệnh.


Các phương pháp điều trị người bệnh tâm thần, theo cách hiểu rộng nhất, cũng giống như trong các chuyên khoa khác của y học. Ví dụ, bác sĩ nội khoa điều trị người bệnh tim không chỉ bằng các phương tiện y khoa như thuốc trợ tim digitalis hay máy tạo nhịp tim mà còn phải sử dụng cả các kỹ thuật tâm lý nhằm thay đổi thái độ và hành vi, tiếp xúc xã hội và môi trường để hạn chế những ảnh hưởng có hại và cả các kỹ thuật hành vi nhằm thay đổi tập tính hành vi.

Bất kể phương pháp được sử dụng, điều trị phải nhằm vào đối tượng, có nghĩa là phải hướng vào đích. Điều này thường bao gồm: (1) tạo được sự hợp tác tích cực từ phía người bệnh; (2) xác định mục đích hợp lí và điều chỉnh kịp thời khi có sai sót; (3) nhấn mạnh đến hành vi dương tính (mục đích) để thay thế cho hành vi triệu chứng (vấn đề) (4) phác thảo phương pháp; và (5) ấn định khung thời gian (sau này có thể điều chỉnh).

Bác sĩ cần phải chống lại những áp lực mong muốn có kết quả tức thì. Trong hầu hết các trường hợp, điều trị tâm thần bao gồm cả sự tham gia tích cực của những người có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người bệnh. Phải có thời gian bên người bệnh, tuy nhiên tần suất và khoảng thời gian mỗi buổi gặp phải linh hoạt và phải đáp ứng được cả về nhu cầu tâm lí cũng như khả năng tài chính của người bệnh. Sự hợp tác là sản phẩm cuối cùng của nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là tiếp xúc tốt, chú ý đến chi phí, chế độ liều lượng khi có chỉ định dùng thuốc. Thầy thuốc có thể làm cho tình trạng bệnh kéo dài thêm nếu như chỉ định không phù hợp. Khi đó người bệnh lại cho rằng vấn đề là do thuốc chưa đủ liều và cần phải được chỉ định liều cao hơn và đưa đến quan niệm càng sai lầm hơn.

Tư vân tâm thần

Tất cả các bác sĩ đều phải có thái độ tốt nhất trong việc đáp ứng những nhu cầu tình cảm của người bệnh. Việc đáp ứng đó phải được thực hiện một cách có kế hoạch và hiệu quả. Phải tư vấn với bác sĩ tâm thần về việc điều trị người bệnh có những vấn đề có thể vượt ra ngoài khả năng của bác sĩ được tư vấn. Những vấn đề đặc biệt nhất bao gồm: khả năng tiềm ẩn về tự sát hoặc giết người và chẩn đoán phân biệt rối loạn khí sắc với loạn thần. Cần phải tư vấn về dược khi phải dùng thuốc tâm thần không thông dụng để giải quyết những vấn đề tâm thần trong các chuyên khoa khác. Việc chuyển người bệnh tâm thần cũng phải được thực hiện một cách tự nhiên, giống như các cuộc chuyển viện thông thường khác, đồng thời người bệnh cũng phải được giải thích đầy đủ các vấn đề.

Điều trị nội trú

Điều trị nội trú có thể được chỉ định khi người bệnh không có khả năng tự chăm sóc bản thân hoặc khi xuất hiện nguy cơ đe doạ người khác hay chính bản thân người bệnh; khi cần phải khám và làm các xét nghiệm để chẩn đoán; hoặc khi yêu cầu các loại điều trị đặc biệt ví dụ như sử dụng kết hợp nhiều loại thuốc hoặc cần đến môi trường bệnh viện (“Liệu pháp môi trường”). Các triệu chứng để chỉ định điều trị nội trú gồm: tự bỏ mặc bản thân, hành vi phá rối hoặc kì thị, nguy cơ tự sát, ý tưởng paranoid hoặc hoang tưởng, rối loạn trí tuệ rõ rệt hoặc kém thích ứng. Có một xu hướng trong những năm gần đây là đưa người bệnh vào bệnh viện đa khoa ở cộng đồng, điều trị tích cực và sau đó nhanh chóng cho ra viện, chuyển sang bậc điều trị khác phù hợp hơn như bệnh viện ban ngày, trạm trung chuyển, điều trị ngoại trú vv...60% số trường hợp vào viện tâm thần là tái nhập viện. Chỉ nên để người bệnh tự giác nhập viện sau khi đã cân nhắc lợi ích cho người bệnh và cho cộng đồng với việc mất tự do cá nhân.

Những bất lợi đối với người bệnh tâm thần điều trị nội trú gồm: giảm tự tin, mang tiếng là “người bệnh tâm thần”, có thể tăng tính lệ thuộc và sự thoái triển; tăng phí tổn. Nói chung điều trị nội trú lâu dài đối với hầu hết người bệnh tâm thần đều là bất lợi. Nội trú một phần hoặc thực hiện những chương trình “ban ngày” sẽ có nhiều cái lợi, hạn chế những bất lợi, trong những chương trình như vậy, thời gian ban ngày dùng làm thời gian điều trị còn buổi tối người bệnh được ngủ ở nhà.


Bài xem nhiều nhất

Tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần khác

Các rối loạn tâm thần phân liệt là nhóm các hội chứng rối loạn tư duy, khí sắc và toàn bộ hành vi cũng như là kém chọn lọc kích thích. Việc mô tả đặc điểm cũng như về mặt thuật ngữ của những rối loạn này còn đang rất tuỳ tiện và chịu ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá, xã hội và các trường phái tâm thần học khác nhau.

Rối loạn khí sắc (trầm cảm và hưng phấn) (chẩn đoán và điều trị)

Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng tâm thần phổ biến nhất ở người già là sa sút trí tuệ (hội chứng não thực thể) với các mức độ khác nhau.

Phụ thuộc các chất kích thích amphetamin và cocain (chẩn đoán và điều trị)

Có một số người nghiện thuốc kích thích trở nên nhạy cảm với việc sử dụng các chất kích thích sau đó. Ở những người này, chỉ cần một lượng nhỏ chất kích thích nhẹ, ví dụ như caffein cũng có thể gây các ra triệu chứng paranoid và ảo thanh.

Phụ thuộc Caffein (chẩn đoán và điều trị)

Có nhiều điểm giống nhau giữa ngộ độc caffein và rối loạn lo âu. Một điểm chung khác giữa caffein và các chất kích thích khác là chúng lại làm nặng thêm các triệu chứng của tâm thần phân liệt bù trừ và bệnh nhân hưng - trầm cảm.

Phụ thuộc cần sa (marijuana) (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của thuốc cho thấy những bất thường trong cành cây phổi. Viêm họng, viêm mũi liên quan tới việc sử dụng cần sa kéo dài cùng với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Các rối loạn dạng cơ thể (những hành vi bệnh tật bất thường) (chẩn đoán và điều trị)

Dễ bị thương tổn ở một hoặc vài hệ thống cơ quan và tiếp xúc với những thành viên trong gia đình có các vấn đề dạng cơ thể sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc phát triển các triệu chứng đặc biệt và cặp song hành chức năng đối lập với thực thể là một trở ngại cho điều trị.

Các rối loạn lo âu và rối loạn phân ly (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn hoảng loạn được đặc trưng bằng những cơn lo âu trầm trọng ngắn, hồi phục tái phát, khó dự đoán, kèm theo những biến đổi sinh lý. Cũng có thể ám ảnh sợ khoảng trống.

Stress và rối loạn thích ứng (rối loạn tình huống)

Từng cá nhân có thể phản ứng lại với stress bằng trạng thái lo âu hoặc trầm cảm, phát hiện các triệu chứrig thực thể, chạy trốn hoặc uống rượu, bắt đầu các vụ áp phe hay một loạt các cách khác.

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức (hội chứng não thực thể)

Các rối loạn hành vi có xu hướng thường gặp ở những trường hợp dai dẳng, thường liên quan trực tiếp đến rối loạn nhân cách hoặc khả năng dễ bị tổn thương của hệ thần kinh trung ương do tác dụng phụ của thuốc và không nhất thiết tương quan với rối loạn nhận thức.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi (chẩn đoán và điều trị)

Các kháng histamin trong một chừng mực nào đó gây sự ức chế hệ thần kinh trung ương do vậy nhiều khi nó được dùng như là một loại an dịu OTC. Trạng thái uể oải cũng thường thấy.

Rối loạn nhân cách (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn nhân cách được xem như là bảng ma trận của một số vấn đề tâm thần nặng nề. Ví dụ, dạng phân liệt, có liên quan đến phân liệt; dạng né tránh, có liên quan đến một số rối loạn lo âu.

Mất ngủ (chẩn đoán và điều trị)

Người bệnh có thể phàn nàn về việc khó vào giấc ngủ hoặc khó khăn trong việc duy trì giấc ngủ, có những khoảng thức giấc trong đêm hoặc thức dậy sớm hoặc kết hợp những hiện tượng đó.

Phụ thuộc và lạm dụng rượu (nghiện rượu) (chẩn đoán và điều trị)

Nghiện rượu là một hội chứng có hai pha: vấn đề ăn uống và phụ thuộc rượu. Vấn đề uống là việc sử dụng rượu lặp đi lặp lại, thường nhằm làm dịu lo âu hoặc giải quyết những vấn đề về tình cảm khác.

Đánh giá tâm thần trong rối loạn tâm thần

Phỏng vấn gia đình về ứng xử của người bệnh với những người khác cũng có thể cung cấp thông tin quan trọng cho chẩn đoán, thậm chí có thể làm sáng tỏ bản chất của vấn đề và giúp cho cách tiếp cận điều trị phù hợp.

Phụ thuộc thuốc gây nghiện (opioid) (chẩn đoán và điều trị)

Để điều trị những trường hợp quá liều hoặc nghi quá liều có thể dùng naloxon 2 mg tiêm tĩnh mạch, nếu quá liều thì kết quả sẽ thể hiện rõ rệt trồng vòng 2 phút. Do khoảng thời gian tác dụng của naloxon ngắn hơn nhiều so với thuốc gây nghiện nên người bệnh phải được theo dõi sát.

Loạn ngủ (hành vi bất thường trong khi ngủ) (chẩn đoán và điều trị)

Cơn khiếp sợ khi ngủ là những kích thích đột ngột, kinh hoàng trong khi ngủ, thường gặp ở những cậu bé và cũng có thể ở người lớn. Nó hoàn toàn khác với cơn hoảng loạn khi ngủ.

Các phương pháp điều trị rối loạn tâm thần

Bác sĩ cần phải chống lại những áp lực mong muốn có kết quả tức thì. Trong hầu hết các trường hợp, điều trị tâm thần bao gồm cả sự tham gia tích cực của những người có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người bệnh.

Phụ thuộc các chất gây ảo giác (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị pha cấp tính chủ yếu là giúp người bệnh tránh được những hành vi thất thường có thể dẫn đến chấn thương hoặc tử vong. Một điều cần thiết khác là phải có môi trường phù hợp cho đến khi thuốc được chuyển hoá.

Ngủ nhiều (các rối loạn ngủ quá mức) (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị ngừng thở khi ngủ có thể gồm các biện pháp như giảm cân và điều hoà không khí qua mũi họng dưới áp lực liên tục trong thời gian ngủ. Kích thích cơ hoành cũng là một giải pháp hữu hiệu đối với ngừng thở khi ngủ trung ương.

Tiếp cận bệnh nhân rối loạn tâm thần

Các yếu tố môi trường và xã hội luôn được coi là những yếu tố quan trọng sống còn trong sự cân bằng tâm thần ở mỗi cá nhân. Không có sự va chạm với môi trường thì cũng không cố bệnh được xã hội thừa nhận.

Các rối loạn đau dai dẳng (chẩn đoán và điều trị)

Các thành tố của hội chứng đau dai dẳng gồm những biến đổi giải phẫu, lo âu và trầm cảm kéo dài, cáu giận và thay đổi lối sống. Thông thường những biến đổi giải phẫu là không hồi phục bởi lẽ nó phải chịu nhiều can thiệp với những hậu quả không mong muốn ngày càng gia tăng.

Phụ thuộc thuốc Phencyclidin

Các triệu chứng thực thể gồm chóng mặt, thất điều, rối loạn ngôn ngữ, rung giật nhãn cầu, co rút mí mắt trên với nhìn chằm chằm vào chỗ trống (nhìn ngây dại) tăng phản xạ và mạch nhanh.

Xem theo danh mục