Chảy máu trong quý ba thai kỳ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 12 - 12 - 2016

Bệnh nhân nên được nằm viện và nghỉ ngơi tại giường liên tục theo dõi thai. Xét nghiệm máu toàn phần phải làm hai đến bốn nhóm máu đã phân nhóm và thử phản ứng chéo.

Từ năm đến mười phần trăm phụ nữ có chảy máu âm đạo trong thời kỳ thai nghén muộn. Thấy thuốc phải phân biệt giữa những nguyên nhân rau thai (rau tiền đạo, rau bong non, mạch cuống rốn tiền đạo) và những nguyên nhân không phải rau thai (nhiễm khuẩn, bệnh đường sinh dục dưới, bệnh hệ thống). Tiếp xúc có chảy máu vào thời kỳ thai nghén muộn thì nên thận trọng và chờ đợi trừ khi thai hoặc nguy cơ chảy máu mẹ xảy ra.

Bệnh nhân nên được nằm viện và nghỉ ngơi tại giường liên tục theo dõi thai. Xét nghiệm máu toàn phần phải làm hai đến bốn nhóm máu đã phân nhóm và thử phản ứng chéo. Nếu thăm dò siêu âm đã được thực hiện sớm hơn trong thời kỳ thai nghén, có thể loại trừ được nguyên nhân rau tiền đạo. Nếu không cũng xác định được vị trí rau bám. Thăm khám tiểu khung bằng mỏ vịt và bằng ngón tay chỉ được làm sau khi thăm dò bằng siêu âm đã loại trừ rau tiền đạo. Đòi hỏi liên tục theo dõi thai bằng monitor điện tử để loại trừ suy thai. Cơn co tử cung đau, hoặc căng lưng thường có rau bong non kết hợp. Tuy nhiên siêu âm âm tính cũng không loại trừ được nó. Nếu chảy máu âm đạo rất nhiều và tử cung đau hoặc co cứng thì nên chuẩn bị bệnh nhân để mổ lấy thai và máu phải có sẵn khi đã thăm khám âm đạo.

Nếu bệnh nhân dưới 36 tuần thai, cần tiếp tục nằm viện và nghỉ ngơi tại giường, đặc biệt vội rau tiền đạo trong 7 - 10 ngày đầu chảy máu âm đạo. Nếu bệnh nhân ở gần bệnh viện và có khả năng thực hiện nghiêm ngặt nghỉ tại giường, cũng như giải quyết hoàn toàn vấn đề chảy máu và có bóp tử cung, việc xử trí theo dõi tại nhà có thể được cân nhắc, thai phụ phải được hướng dẫn tốt và tư vấn về những nguy cơ. Những bệnh nhân chảy máu âm đạo mà tuổi thai dưới 35 tuần thì cũng nên xem xét chọc hút nước ối để đánh giá độ trưởng thành của phôi thai nhi. Liệu phập steroid được chỉ định khi thai dưới 34 tuần và nếu có biểu hiện phổi của thai nhi chưa trưởng thành.

Những bệnh nhân rau tiền đạo người ta đề nghị lấy máu tĩnh mạch để giữ vào ngân hàng máu tự thân.

Bài xem nhiều nhất

Tiền sản giật và sản giật (chẩn đoán và điều trị)

Không có cách can thiệp nào tỏ ra là có giá trị để làm giảm tần suất xẩy ra hay tính nghiêm trọng của quá trình qua nghiên cứu một cách khách quan bao gồm lọt tiểu, chế độ ăn hạn chế hoặc tăng cao, hạn chế muối, và bổ sung vitamin khoáng.

U nguyên bào nuôi do thai (chửa trúng và ung thư nguyên bào nuôi)

Chửa trứng bán phần có xu hướng theo sau là giai đoạn lành tính, trong khi chửa trứng toàn phần có khuynh hướng đa số trở thành ung thư nguyên bào nuôi.

Sẩy thai tự nhiên (chẩn đoán và điều trị)

Vào khoảng một phần tư các trường hợp, nguyên nhân sẩy thai không thể xác định được. Hiện nay không có chứng cớ rằng đầu máy video hoặc lĩnh vực điện tử phối hợp liên quan đến vấn đề tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên.

Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt thai nghén

Những biểu hiện thai và triệu chứng sau thường do thai nghén gây ra, nhưng không có dấu hiệu nào dùng để chẩn đoán được. Việc ghi nhận thời gian và tần suất giao hợp giúp ích cho việc chẩn đoán và xác định thời gian có thai.

Chửa ngoài tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm máu có thể cho thấy thiếu máu và hơi tăng bạch cằu. Thử nghiệm thai nghén định lượng trong huyết thanh nói chung cho thấy có mức độ thấp hơn so với thai nghén bình thường cùng tuổi thai.

Dinh dưỡng trong khi có thai

Những chất rỗng calo nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau: thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa, tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.

Cho con bú (nuôi con bằng sữa mẹ)

Cho bú thường xuyên đòi hỏi phải có giờ giấc để tăng cường tiết sữa và cho bú có kết quả. Việc nuôi dưỡng bằng sữa mẹ giúp ích về mặt thời gian, đầu tiên, được các thầy thuốc, y tá và các bà mẹ nuồi con bằng sữa mẹ ủng hộ.

Viêm vú hậu sản (chẩn đoán và điều trị)

Viêm vú thường bắt đầu trong vòng ba tháng sau đẻ và có thể bắt đâu với một vết thương hay nứt núm vú. Có sự viêm mô tế bào rõ ràng ở vùng tổ chức vú, với biểu hiện đỏ, sưng, nóng tại chỗ và sốt.

Đề phòng chuyển dạ đẻ non (chẩn đoán và điều trị)

Giáo dục bệnh nhân để nhận biết những cơn co tử cung đều đặn thường xuyên bằng cách báo động cho nhân viên y tế để đánh giá những bệnh nhân hây sớm và bắt đầu điều trị sẽ hạ thấp tỷ lệ đẻ non, nếu như những biến đổi cổ tử cung có thể được nhận thấy.

Nôn trong thai nghén (nôn vào buổi sáng nặng ác tính)

Nôn nặng, dai dẳng trong khi có thai gọi là chứng nôn nghén nặng, có thể làm cho kiệt quệ cần phải nằm viện. Sự mất nước, nhiễm toan, suy dinh dưỡng có thể phát triển cùng với sự nôn mửa kéo dài.

Những vấn đề cơ bản chăm sóc trước đẻ

Chăm sóc trước đẻ nên bắt đầu sớm và duy trì đều đặn trong thời kỳ từ 0 đến 28 tuần thì khám 4 tuần 1 lần, 28 - 36 tuần: 2 tuần một lần; 36 tuần trở đi: khám hàng tuần.

Đề phòng huyết tán của trẻ sơ sinh (bệnh nguyên hồng cầu thai nhi)

Những phần tử kháng thể quá lớn không qua được qua rau thai và ảnh hưởng đến thai có Rh dương tính. Độ thanh thải globulin của người mẹ đủ thấp để tiếp tục bảo vệ được 12 tuần.

Chảy máu trong quý ba thai kỳ (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân nên được nằm viện và nghỉ ngơi tại giường liên tục theo dõi thai. Xét nghiệm máu toàn phần phải làm hai đến bốn nhóm máu đã phân nhóm và thử phản ứng chéo.

Sẩy thai liên tiếp (chẩn đoán và điều trị)

Sẩy thai liên tiếp là chấn đoán lâm sàng đúng hơn là chẩn đoán bệnh lý. Những dấu hiệu lâm sàng cũng tương tự như những điều được quan sát thấy ở các loại sẩy thai khác.

Du lịch và tiêm chủng trong khi có thai

Gama globulin lưu trữ để ngăn ngừa viêm gan A là an toàn và không mang lại nguy cơ lây truyền HIV. Chloroquin có thể được sử dụng đề phòng bệnh sốt rét trong khi mang thai, và proguanil cũng an toàn.