Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 12 - 2016

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Viêm và nhiễm khuẩn âm đạo là những vấn đề thông thường trong phụ khoa. Đó là hậu quả của nhiều bệnh căn, phản ứng dị ứng với các viên thuốc tránh thai đặt âm đạo hay các sản phẩm khác, hoặc bị cọ sát khi giao hợp. pH bình thường của âm đạo là 4,5 hay thấp hơn và lactobacillus là vi sinh vật chiếm ưu thể nhất. Vào thời điểm giữa vòng kinh, lượng estrogen tăng lên làm chất nhầy được tiết ra từ cổ tử cung cũng nhiều lên, trong, đàn hồi. Trong giai đoạn hoàng thể và trong khi có thai, các chất tiết âm đạo thường đặc hơn, trắng và đôi khi dính vào thành của âm đạo. Đây là chất tiết bình thường và nếu người phụ nữ lo lắng thì có thể nhầm lẫn với viêm âm đạo.

Những phát hiện lâm sàng

Khi người bệnh than phiền rằng âm đạo bị kích thích, đau hoặc ra chất dịch không bình thường thì cần phải hỏi kỹ bệnh sử, lưu ý đến kỳ hành kinh cuối cùng, hoạt động tình dục gần đây, sử dụng thuốc tránh thai, nút âm đạo, thụt rửa âm đạo và có bỏng rát âm đạo, đau, ngứa, ra khí hư nhiều hoặc hôi, khác với bình thường. Khám thực thể bao gồm xem kỹ âm hộ, dùng mỏ vịt xem âm đạo và cố tử cung. Có thể cấy bệnh phẩm ở cố tử cung tìm lậu cầu khuẩn và chlamydia. Đặt một giọt chất tiết âm đạo trong một giọt nước muối sinh lý lên phiến kính soi dưới kính hiển vi để tìm ký sinh trùng roi âm đạo, vi khuẩn, tế bào bạch cầu, các tế bào chi điểm (tế bào của biểu mô có lấm tấm hạt là những tế bào có viền bị mờ đi bởi vi khuẩn; xem phần nhiễm vi khuẩn âm đạo). Chất tiết lấy từ thành âm đạo được quan sát trong giọt dung dịch kali hydroxid 10% để tìm nấm candida. Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Nấm Candida albicatis

Có thai, đái tháo đường và sử dụng kháng sinh phổ rộng hoặc corticosteroid đều dễ đưa đến nhiễm nấm candida. Những người phụ nữ có HIV dương tính có thể thường xuyên bị viêm lại hoặc bị những nhiễm khuẩn không bảo vệ được. Nóng ẩm và quần áo bịt kín cũng tạo thêm nguy cơ. Ngứa, ban đỏ ở âm hộ - âm đạo và thấy có khí hư như váng sữa trắng và không có mùi hôi. Kiểm tra vi thể với kali hydroxid 10% cho thấy có những sợi nấm và nha bào nấm.

Cấy trong môi trường Nickerson có thể được sử dụng trong trường hợp nghi ngờ candida mà không chứng minh được.

Trichomonas âm đạo

Là động vật nguyên sinh có roi gây nhiễm âm đạo, các ống Skene, đường sinh dục dưới của nữ giới và của nam giới. Lây truyền qua giao hợp. Xuất hiện ngứa, khí hư màu vàng xanh, mùi hôi, có bọt kèm theo có các ban đỏ lan tràn và các chấm tổn thương màu đỏ đến tận cổ tử cung trong các trường hợp nặng. Các sinh vật này di chuyển, có roi nhìn thấy được qua kiểm tra dưới kính hiển vi một lượng khí hư ẩm đặt trong dung dịch muối.

Nhiễm vi khuẩn âm đạo

Trạng thái này được coi là một bệnh do nhiều vi khuẩn và không lây qua giao hợp. Sự phát triển quá mức Gardnerella và các vi khuẩn kỵ khí khác thường đi kèm với sự tăng khí hư có mùi hôi, không có biểu hiện rõ của viêm âm hộ và viêm âm đạo. Khí hư có mầu xám nhạt và đôi khi có bọt, pH khoảng 5,0 - 5,5. Mùi tanh cá xuất hiện khi kiềm hóa khí hư bằng một giọt kali hydroxid 10%. Lấy một lượng khí hư ẩm cho vào trong nước muối, thấy tế bào biểu mô bị phủ đầy các vi khuẩn tới mức bờ viền của các tế bào bị mờ đi (tế bào hình đinh). Cấy khí hư trong âm đạo nói chung không có ích trong chẩn đoán.

Condylomata acuminata (mụn cóc cơ quan sinh dục ngoài)

Mụn cóc phát triển ở âm hộ, vùng quanh hậu môn, thành âm đạo hoặc cổ tử cung có nguyên nhân là các loại khác nhau của papillomavirus ở người. Lây truyền theo đường tình dục. Sự có thai và sự suy giảm miễn dịch làm thuận lợi cho phát triển bệnh. Những tổn thương ở âm đạo có thể biểu hiện dưới dạng phì đại tản mát hoặc dạng cục. Tổn thương ở cổ tử cung chỉ có thể nhìn thấy bằng soi cổ tử cung sau khi chấm acid acetic 4%. Những thương tổn này được nghĩ là có liên quan đến loạn sản và ung thư cổ tử cung. Ung thư âm hộ hiện nay được coi là có liên quan với papillomavirus ở người.

Điều trị

Nấm candida albicans

Điều trị có kết quả bao gồm các chế độ:

Điều trị 3 ngày: butoconazol (kem 2% - 5g), clotrimazol (viên đặt âm đạo 200mg), terconazol (kem 0,8% - 5g hoặc viên đạn 80mg) hoặc miconazol (thuốc đạn đặt âm đạo 200mg).

Điều trị 7 ngày: clotrimazol (kem 1% hoặc đặt viên âm đạo 100 mg), hoặc miconazol kem 2% - 5g, hoặc thuốc đạn đặt âm đạo 100 mg.

Điều trị liều duy nhất: clotrimazol (viên 500 mg) hoặc mỡ ticonazol (6,5%-5g).

Tất cả các thuốc đặt âm đạo cần đặt trước khi đi ngủ. Liều điều trị duy nhất có thể dành cho những trường hợp nhẹ, không biến chứng và những chế độ điều trị nhiều ngày dành cho những trường hợp nặng hay viêm âm đạo do candida có biến chứng. Nấm âm hộ - âm đạo tái phát có thể điều trị bằng ketoconazol 100 mg uống mỗi ngày một lằn và trong 6 tháng.

Trichomonas âm đạo

Cần thiết phải song song điều trị cả hai vợ chồng, hay được dùng metronidazol 2g một liều duy nhất hoặc 500 mg dùng trong 7 ngày. Trong những trường hợp điều trị thất bại, bệnh nhân cần được điều trị lại với metronidazol 500 mg 2 lần mỗi ngày trong 7 ngày. Nếu điều trị lại vẫn thất bại, điều trị với liều duy nhất 2 g metronidazol mỗi ngày 1 lần trong 3 - 5 ngày. Nếu điều trị như trên vẫn chưa có kết quả loại trừ tận gốc mầm bệnh có thể làm test nhậy cảm với metronidazol bằng CDC. Metronidazol cần tránh dùng trong quý đầu của thời kỳ thai nghén.

Bệnh nhiễm vi khuẩn âm đạo

Chế độ điều trị được khuyên dùng là metronidazol 500 mg x 2 lần mỗi ngày, trong 7 ngày. Chế độ điều trị dùng liều duy nhất 2 g có vẻ ít hiệu quả hơn chế độ điều trị 7 ngày nhưng có thể có hiệu quả ngang nhau trong thực hành lâm sàng hiện tại vì được chấp nhận tốt hơn. Những chế độ điều trị xen kẽ gồm clindamycin dạng kem đặt âm đạo (2% - 5g) mỗi ngày một lần trong 7 ngày, thạch đông metronidazol (0,75% - 5g) hai lần mỗi ngày, trong 5 ngày hay clindamycin 300 mg uống hai lần mỗi ngày trong 7 ngày.

Condylomata acuminata

Có một số cách khác nhau để điều trị condylomata acuminata. Điều trị những mụn cóc nhỏ ở âm hộ bằng nhựa podophyllum 25% pha trong cồn thuốc benzoin (không dùng trong thời kỳ mang thai hoặc trên vết thương đang chảy máu) hoặc acid trichloroacetic 50 - 90% chấm cẩn thận, tránh để chạm vào vùng da xung quanh. Đau do chạm phải acid trichloroacetic có thể làm giảm đi bằng bôi bột nhão bicarbonat natri vào ngay nơi vừa điều trị. Nhựa podophyllum cần phải được rửa sạch đi sau 2 - 4 giờ. Podofilox, hoạt chất lấy từ nhựa thô podophyllum có thể dùng an toàn và tiện cho người bệnh tự dùng. Đốt lạnh bằng nitrogen lỏng hoặc bằng nhựa podophyllum cũng có hiệu quả. Mụn cóc lan rộng có thể đòi hỏi phải điều trị bằng laser CO2 gây tê tại chỗ hay gây tê toàn thân. Interferon không được khuyên dùng vì rất đắt và không có hiệu quả hơn các phương pháp khác. Điều trị bằng fluorouracil chưa được nghiên cứu thử một cách có kiểm chứng, thường gây kích thích tại chỗ và không được khuyên dùng. Điều trị cho các bạn tình là không cần thiết đối với mụn cóc ở bộ phận sinh dục vì tái nhiễm tỏ ra ít ỏi.

Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.