Thống kinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 12 - 2016

Thuốc được dùng khi bắt đầu ra máu kinh sẽ tránh được việc dùng thuốc cẩu thả khi mới có thai. Thuốc được dùng tiếp tục trên cơ sở 2 - 3 ngày. Có thể làm mất phóng noãn và phòng ngừa được thống kinh bằng các thuốc tránh thai uống.

Thống kinh nguyên phát

Thống kinh nguyên phát là hành kinh đau liên quan với vòng kinh có phóng noãn, khám không thấy bệnh lý thực thể nào. Đau thường bắt đâu trong vòng 1 - 2 năm sau kỳ hành kinh đầu tiên và có thể nặng lên theo thời gian. Tỷ lệ gặp tăng lên cho tới tuổi 20 rồi giảm đi theo tuổi và giảm rõ nét sau đẻ. Có 50 - 75% phụ nữ thống kinh từng đợt và 5 - 6% thống kinh làm mất khả năng lao động.

Thống kinh nguyên phát là đau ở bụng dưới, đau đường giữa, đau dội từng đợt, đau co rút trong tiểu khung, thường lan ra phía sau lưng hoặc mặt trong đùi. Những cơn đau quặn có thể kéo dài một ngày hay hơn và có thể kèm theo buồn nôn, ngất xỉu, ỉa chảy, đau đầu và sốt. Đau do co thắt mạch máu tử cung, thiếu oxy và co bóp kéo dài dưới tác dụng của prostaglandin.

Những phát hiện lâm sàng

Khám tiểu khung giữa hai kỳ hành kinh thấy bình thường, khám trong khi hành kinh có thể gây khó chịu nhưng không tìm thấy dấu hiệu bệnh lý.

Điều trị

Thuốc chống viêm không steroid (ibuprofen, ketoprofen, acid mefenamic, naproxen) thường có tác dụng. Thuốc được dùng khi bắt đầu ra máu kinh sẽ tránh được việc dùng thuốc cẩu thả khi mới có thai. Thuốc được dùng tiếp tục trên cơ sở 2 - 3 ngày. Có thể làm mất phóng noãn và phòng ngừa được thống kinh bằng các thuốc tránh thai uống.

Thống kinh thứ phát

Thống kinh thứ phát íà đau khi hành kinh có nguyên nhân thực thể. Thường bắt đầu ngay sau khi mới hành kinh, đôi khi bắt đầu muộn vào độ tuổi 30 - 40.

Những phát hiện lâm sàng

Hỏi bệnh và khám thực thể thường gợi ý về bệnh lạc nội mạc tử cung hay bệnh viêm tiểu khung. Các nguyên nhân khác có thể là u xơ tử cung dưới niêm mạc, dụng cụ tử cung tránh thai, chít hẹp lỗ cổ tử cung hoặc tử cung có sừng tịt (hiếm gặp).

Chẩn đoán

Soi ổ bụng thường là cần thiết để phân biệt lạc nội mạc tử cung hay bệnh viêm tiểu khung, u xơ tử cung dưới niêm mạc có thể phát hiện được một cách đáng tin cậy nhất nhờ phương pháp chụp cộng hưởng từ hạt nhân, ngoài ra có thể bằng chụp buồng tử cung, bằng soi buồng tử cung hoặc bằng đưa một que thăm dò qua lỗ cổ tử cung trong khi làm thủ thuật nong và nạo tử cung. Chít hẹp cổ tử cung có thể do nạo phá thai gây ra, cơn đau co rút xảy ra vào lúc sắp hành kinh mà không thấy máu chảy ra. Có thể điều trị dễ dàng bằng cách đưa một que thăm dò vào buồng tử cung sau khi đã phong bế bên cạnh cổ tử cung.

Điều trị

Các phương pháp đặc trị:

Sử dụng có chu kỳ thuốc giảm đau bao gồm thuốc chống viêm không steroid trong trường hợp thống kinh nguyên phát có thể có ích, thuốc tránh thai uống có thể làm giảm bệnh đặc biệt trong trường hợp lạc nội mạc tử cung. Danazol và các chất tương đồng GnRH có tác dụng trong việc điều trị lạc nội mạc tử cung.

Các phương pháp phẫu thuật:

Nếu bệnh nhân tỏ ra bệnh tật hoặc bệnh kéo dài thì thường có quyền soi ổ bụng hoặc mở bụng thăm dò. Quyết định của phẫu thuật phụ thuộc vào mức độ bệnh tật của người bệnh và các tổn thương thấy khi mổ.

Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.