Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-12-10

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.



Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Thôi hành kinh do tuổi hay do cắt buồng trứng hai bên.

Tăng các hàm lượng FSH và LH.

Bốc hoả và ra mồ hôi ban đêm (trong 80% các phụ nữ).

Giảm trơn âm đạo, niêm mạc tử cung mỏng, có hoặc không kèm theo giao hợp đau.

Nhận định chung

Thuật ngữ "mãn kinh" để chỉ sự thôi hành kinh dù không chỉ do tuổi tác cao lên một cách bình thường mà còn là kết quả của sự cắt bỏ cả hai buồng trứng.

Theo nghĩa rộng hơn thuật ngữ này thường hay được dùng để chỉ sự diễn biến kinh nguyệt ít dần đi trong quãng thời gian 1- 3 năm sau đó mất hẳn kinh và có thể kèm theo những thay đổi về sinh lý như bốc hóả, ra mô hôi đêm, khô âm đạo và giao hợp đau.

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn. Mãn kinh do phẫu thật cắt bỏ hai bên buồng trứng hay gặp và có thể gây những hiệu quả nặng nề hơn do tụt đột ngột các hàm lượng hormon hướng sinh dục. Không có bằng chứng khách quan nào nói được rằng mất chức năng của buồng trứng thì phải kèm theo những rối loạn về cảm xúc và thay đổi về nhân cách. Tuy nhiên có thể xảy ra những thay đổi về tính tình hướng tới suy sụp và lo âu trong thời gian này. Thêm vào đó, trong thời gian mãn kinh thường kèm theo những thay đổi lớn về cuộc sống, như con cái đã rời nhà ra đi, khó tính do cao niên hoặc ly dị. Những sự kiện này kết hợp với ý nghĩa của sự mất đi tuổi trẻ có thể làm cho triệu chứng của mãn kinh trầm trọng thêm và gây ra đau khổ tâm lý.

Những dấu hiệu và triệu chứng

Thôi hành kinh

Càng gần mãn kinh, các chu kỳ kinh nguyệt càng không đều. Những vòng kinh không phóng noãn hay gặp hơn với các độ dài vòng kinh khồng đều và đôi khi có rong kinh. Lượng máu kinh thường giảm do giảm lượng estrogen chế tiết làm cho niêm mạc tử cung giảm phát triển. Cuối cùng các chu kỳ trở nên dài hơn, có những kỳ kinh bị mất hay chỉ ra có huyết thấm giọt. Nếu mất kinh đã một năm thì co thể nói rằng đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp. Sau giai đoạn này, nếu có ra huyết thì thăm dò bằng nạo niêm mạc tử cung hay hút buồng tử cung để đảm bảo loại trừ ung thư niêm mạc tử cung.

Bốc hoả

Bốc hoả (những cảm giác thấy nóng bừng ở thần người và ở mặt rồi lướt qua da và chảy mồ hôi) xảy ra trong 80% những phụ nữ có giảm hormon buồng trứng. Bốc hoả có thể bắt đầu từ trước khi xảy ra mất kinh. Sự tăng giải phóng một cách có nhịp độ của hormon giải phóng hướng sinh dục từ vùng dưới đồi được coi là nguồn kích thích bốc hoả do đã tác dụng lên vùng điều hoà nhiệt độ của não nằm kể cận. Bốc hoả trầm trọng hơn ở những phụ nữ mãn kinh do phẫu thuật. Bốc hoả càng rõ nét vào cuối ngày, khi thời tiết nóng, khi dùng thức uống nóng hay là trong những lúc căng thẳng. Xảy ra vào ban đêm, bốc hoả có thể làm đổ mồ hôi và mất ngủ đưa đến hậu quả là gây mệt mỏi vào ngày hôm sau.

Teo âm đạo

Gùng với sự giảm tiết estrogen, niêm mạc tử cung bị teo mỏng và âm đạo bị giảm trơn, dẫn đến giao hợp đau. Lỗ vào của âm đạo bị chít hẹp. Khám phụ khoa cho thấy niêm mạc tử cung nhợt nhạt, nhẵn phẳng, cổ tử cung và tử cung nhỏ. Các buồng trứng không nắn thấy bình thường trong thời kỳ mãn kinh. Việc tiếp tục hoạt động tình dục có thể giúp đề phòng teo và có tổ chức; dùng các chất bôi trơn, kem estrogen hay testosterol hay dùng estrogen uống có thể đề phòng đau và làm giảm đau.

Loãng xương

Loãng xương có thể xảy ra, coi như là một di chứng muộn của mãn kinh.

Các phát hiện cận lâm sàng

Các hàm lượng FSH, LH tăng lên. Xét nghiệm tế bào học âm đạo cho thấy tác dựng estrogen thấp và các tế bào đáy nông chiếm ưu thế.

Điều trị

Mãn kinh tự nhiên

Sự giáo dục và sự giúp đỡ của các cán bộ y tế, các nhóm cao niên thảo luận và các tài liệu đọc có thể giúp đa số các phụ nữ có khó khăn thích nghi với mãn kinh. Có thể điều trị các triệu chứng sinh lý như sau:

Các triệu chứng vận mạch

Cho các estrogen phức hợp 0,3 mg hay 0,625 mg; estradiol 0,5 - 1 mg; estron sulfat 0,625 mg hoặc estradiol có thể cho thấm qua da (Estraderm) gồm các tấm dán lên da thay hai lần mỗi tuần, giải phóng 0,05 - 0,1 mg hormon mỗi ngày. Khi dùng estrogen, dù bất cứ dạng nào, cho thêm progestin (medroxyprogesteron acetat) để đề phòng quá sản hay ung thư niêm mạc tử cung. Các hormon có thể cho theo nhiều cách. Cho estrogen trong các ngày 1- 25 của mỗi tháng theo lịch, cho thêm 5 - 10mg medroxyprogesteron acetat vào ngày thứ 14 - 25. Ngừng cho hormon từ ngày 26 đến hết tháng; trong thời gian này niêm mạc tử cung sẽ bong dẫn đến ra ít máu hàng tháng, thường không đau. Xen kẽ cho estrogen cùng với 2,5mg medroxyprogesteron acetat mỗi ngày không ngừng. Phương án điều trị này ban đầu gây đôi chút chảy máu hay chảy máu thấm giọt, nhưng trong vòng ít tháng sau nó sẽ gây teo niêm mạc tử cung và không chảy máu nữa. Nếu người phụ nữ đã được cắt tử cung thì không cần thiết phải cho progestin. Giải thích cho người bệnh rõ những người phụ nữ muốn thôi không điều trị hormon thì liều thuốc cần giảm dần trước khi ngừng.

Clonidin, một chất tương đồng alpha adrenergic đã được thấy là có tác dụng làm giảm các cơn bốc hoả khi dùng uống hoặc cho thấm qua da với liều 100 - 150µg mỗi ngày. Các tác dụng phụ gồm khô miệng buồn ngủ và tụt huyết áp, nhưng thường nhẹ khi dùng liều thấp. Những phương pháp tự nhiên nhằm làm giảm mức độ nặng nề của các cơn bốc hoả gồm có tập thể dục hàng ngày, điện châm, thực hiện thư giãn và tránh cà phê, rượu.

Teo âm đạo

Có thể điều trị được bằng hormon liệu pháp như đã phác hoạ ở trên. Xen kẽ, dùng kem hormon tại chỗ liều thấp thường làm giảm đau đồng thời có một lượng nhỏ thuốc thấm vào cơ thể. Dùng kem âm đạo estrogen, phức hợp ti lệ 1/8, bôi âm đạo (0,3 mg estrogen phức hợp) mỗi đêm trong 7 - 10 đêm. Sau đó, cách đêm dùng một lần rồi mỗi tuần dùng hai lần. Testosteron propionat 1 - 2%, 0,5 - 1 g kem tan dùng như cách nói trên cũng có tác dụng nếu như có chống chỉ định sử dụng estrogen. Chất bôi trơn dịu như kem lạnh không có hương liệu hay chất thạch đông tan trong nước cũng giúp ích trong khi giao hợp.

Loãng xương

Phụ nữ cần ăn uống ít nhất 800 mg calci mỗi ngày trong suốt cuộc đời. Các sản phẩm không béo hay ít béo của sữa, nước cam tăng cường thêm calci, rau xanh, bánh mỳ khô và cá chích hay cá hồi đóng hộp ăn cả xương là các nguồn thức ăn tốt theo chế độ. Thêm vào đó, 1 g yếu tố calci cần được bổ sung hàng ngày trong thời kỳ mãn kinh và cả về sau. Các chất bổ sung calci dần được dùng cùng thức ăn cho tăng phần hấp thụ. Vitamin D 400 đơn vị quốc tế mỗi ngày qua thức ăn, ánh sáng mặt trời hay các chất hồi phụ là cần thiết để nâng cao sự hấp thụ calci. Hàng ngày ra sức đi bộ và tập thể dục làm khoẻ tay và khoẻ phần trên của cơ thể, giúp duy trì khối,lượng xương của cơ thể.

Những người phụ nữ có nguy cơ nhiều nhất bị gãy xương do loãng xương cần được điều trị hormon thay thế. Đó là những phụ nữ xứ Caucase và châu Á, đặc biệt khi họ có tiền sử gia đình bị loãng xương, những người mảnh dẻ, thấp bé, hút thuốc lá và không hoạt động thể lực hay đã có chế độ ăn thấp calci khi ở tuổi trưởng thành. Liều dùng thường cũng tương tự như trong điều trị các triệu chứng vận mạch. Etidronat, một chất diphosphonat dùng trong bệnh Paget, gần đây thấy làm tăng khối lượng xương sống và làm giảm tỉ lệ gãy xương. Cho thuốc với liều lượng 400 mg mỗi ngày, trong 2 tuần, mỗi năm 4 đợt. Calcitonin tiêm hoặc xịt mũi hàng ngày và calcitr ol, một dạng hoạt hóa của vitamin D cũng đang được nghiên cứu để đề phòng và điều trị loãng xương.

Mãn kinh do phẫu thuật

Sự giảm đột ngột hormon do cắt buồng trứng thường dẫn đến những triệu chứng vận mạch trầm trọng và nhanh chóng gây ra giao hợp đau và loãng xương trừ khi được điều trị. Estrogen phức hợp 1,25 mg, estron sulíat 1,25 mg hay estradiol 2 mg cho trong 25 ngày mỗi tháng. Sau tuổi 45 - 50, liều này có thể giảm xuống còn 0,625 mg estrogen phức hợp hay hormon tương đương.

Các lợi ích và các nguy cơ của hormon liệu pháp

Liệu pháp estrogen kéo dài đã tỏ ra làm giảm nguy cơ bệnh tim tàn khốc ở phụ nữ, có khả năng là do làm giảm LDL - cholesterol, làm tăng HDL - cholesterol và làm tăng tính đàn hồi của các thành mạch. Liều estrogen dùng thấp hơn nhiều so với liều có trong các thuốc tránh thai uống và do đó kết quả là các tác dụng phụ như tăng huyết áp, bệnh viêm tắc tĩnh mạch và những rối loạn tim mạch khác đã không thấy. Các progestin làm mất một sô nhưng không tất cả những tác dụng phụ thuận lợi này. Các estrogen giúp phòng ngừa loãng xương, các cơn bốc hoả, giao hợp đau và nâng cao trạng thái tinh thần. Những nguy cơ của estrogen gồm có thể tăng chút ít tần suất ung thư vú, đặc biệt ở những phụ nữ có tiền sử gia đình liên quan chặt chẽ với bệnh này. Ung thư niêm mạc tử cung có thể xảy ra trừ khi progestin được dùng thích hợp. Vì estrogen làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh túi mật đòi hỏi phải mổ cắt bỏ túi mật nên việc sử dụng nó đối với những phụ nữ có sỏi mật hay có tiền sử viêm túi mật là không khôn ngoan. Estrogen có thể làm tăng phát triển u xơ tử cung mà đáng lẽ nó sẽ teo nhỏ đi sau mãn kinh.


Bài mới nhất

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Triệt sản (chỉ định và điều trị)

Vài nghiên cứu cho thấy có thể liên quan với ung thư tuyến tiền liệt nhưng bằng chứng còn mỏng manh và không chắc chắn

Phá thai (chỉ định và điều trị)

Những biến chứng tiếp sau phá thai phạm pháp thường cần được chăm sóc cấp cứu chống ra máu, sốc nhiễm khuẩn hay thủng tử cung

Tránh thai sau giao hợp (chỉ định và điều trị)

Đặt dụng cụ tử cung tránh thai trong vòng 5 ngày sau giao hợp không chuẩn bị vào giữa vòng kinh cũng có thể tránh được thai, các dụng cụ tử cung mang đồng

Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt, Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú, đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.