Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 12 - 2016

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Chảy máu ở âm đạo xuất hiện sau 6 tháng hoặc muộn hơn sau khi chấm dứt kinh cần được kiểm tra nghiên cứu. Phần lớn nguyên nhân của chảy máu là teo niêm mạc tử cung và sử dụng estrogen mà không có sự phối hợp với progestin. Các nguyên nhân khác bao gồm: viêm teo âm đạo, sang chấn, những khối polip niêm mạc tử cung, loét dinh dưỡng ở cổ tử cung kết hợp với sa tử cung và tình trạng bệnh lý của máu. Chảy máu tử cung thường không đau nhưng sẽ có đau nếu cổ tử cung bị chít hẹp, nếu máu chảy nhiều và nhanh hoặc nếu nhiễm khuẩn hoặc xơ u, khối u lòi ra khỏi cổ tử cung.

Bệnh nhân có thể kể ra một bệnh chảy máu thấm giọt hay chảy máu nhiều trong nhiều ngày hoặc nhiều tháng.

Chẩn đoán

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra. Lấy dịch âm đạo trộn với dung dịch nước muối và hydroxid kali, có thể thấy bạch cầu, các mầm bệnh hoặc thấy những tế bào đáy của biểu mô chứng tỏ có tác dụng đặc biệt trước khi soi buồng tử cung, nghiên cứu cẩn thận các polip niêm mạc tử cung. Mô lấy được trong quá trình soi buồng tử cung có thể cho thấy niêm mạc tử cung teo, có polip, quá sản, (có hoặc không có kèm theo hình ảnh tuyến không điển hình) hoặc ung thư.

Siêu âm bằng đầu dò âm đạo có thể đo được chiều dày của niêm mạc tử cung (< 5 mm là teo, > 15mm là phì đại).

Điều trị

Hút nạo buồng tử cung (kèm theo cắt bỏ polip khi có chỉ định) thường cũng là phương pháp điều trị bệnh. Nếu đơn giản chỉ là sự tăng sản bình thường của niêm mạc tử cung, có thể điều trị một cách có chu kỳ bằng progestin (medroryprogesteron acetat 10 mg/ngày hoặc norethindron acetat 5 mg/ngày) trong 21 ngày mỗi tháng, trong 3 tháng. Có thể làm lại biện pháp nong nạo tử cung hoặc sinh thiết niêm mạc tử cung, và nếu hình ảnh mô bình thường mà cần điều trị thay thế estrogen thì phải thêm progestin (như trên) trong 10 - 14 ngày cuối cùng của mỗi vòng estrogen, sau đó là 5 ngày không điều trị hormon, có nghĩa là để niêm mạc tử cung bong rụng. Nếu thấy có tăng sinh niêm mạc tử cung thì cần phải mổ cắt tử cung.

Bài xem nhiều nhất

Ung thư trong biểu mô của cổ tử cung (CIN, loạn sản cổ tử cung)

Chẩn đoán phỏng chừng bằng phương pháp tế bào học sàng lọc ở một quần thể không có triệu chứng và không nhìn thấy có thay đổi gì đại thể ở cổ tử cung

Nang và áp xe tuyến Bartholin (chẩn đoán và điều trị)

Mủ hay chất tiết dịch lấy ra từ tuyến cần được nuôi cấy để tìm lậu cầu, chlamydia và các mầm bệnh khác và để điều trị cho phù hợp; thường thì ngâm nước ấm có thể có ích

Sa sinh dục (sa bàng quang, sa trực tràng, sa tiểu tràng)

Sa tiểu tràng cũng có thể kèm theo sa tử cung hoặc có thể tiếp theo cắt tử cung khi mà các phần nâng đỡ vòm ầm đạo bị yếu đi hoặc là túi cùng ở sâu mà không được bịt lại trong đó chứa ruột đẩy lồi vào trong âm đạo.

Viêm âm đạo (chẩn đoán và điều trị)

Có thể kiểm tra pH của âm đạo, pH thường là cao hơn 4,5 khi bị nhiễm Trichomonas và có thể nhiễm vi khuẩn trong âm đạo. Tiếp đó, khám bằng hai tay để xem tiểu khung có bị viêm nhiễm không.

Bệnh viêm tiểu khung (PID, viêm vòi trứng, viêm niêm mạc tử cung)

Những phụ nữ có đau bụng dưới, khám thấy nhạy cảm đau ở phần phụ hoặc tử cung khi di động nên được cân nhác là bị PID và nên được điều trị bằng kháng sinh trừ khi có chẩn đoán

U xơ tử cung (khối u dạng xơ hóa, u xơ cơ)

Ở phụ nữ có thai, u xơ đôi khi gây thêm các nguy cơ: xảy thai, ngôi bất thường, không lọt được, chuyển dạ đẻ non, đau khu trú (do thoái hóa đỏ hoặc xoắn), đẻ khó, chuyển dạ không có hiệu quả và chảy máu sau đẻ.

Polip cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Những khối polip có thể nhìn thấy được trong lỗ cổ tử cung qua đặt mỏ vịt. Cần phân biệt các polip cổ tử cung với các bệnh lý tân tạo dạng polip của niêm mạc tử cung. Polip cổ tử cung hiếm khi chứa ổ ác tính.

Chảy máu âm đạo sau mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Âm hộ và âm đạo cần được kiểm ra để tìm ra vùng chảy máu, những vết loét hoặc những khối u. Cần làm phiến đồ tế bào học lấy ở cổ tử cung và túi cùng âm đạo. Có thể thấy được tế bào ung thư bị bong ra.

Viêm cổ tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Nếu chất tiết dịch từ ống cổ tử cung là chất nhầy mủ màu vàng và soi dưới kính hiển vi khô phóng đại lớn trên mỗi kính trường có từ 10 bạch cầu đa nhân trở lên thì gợi ý nghĩ đến chlamydia.

Lạc nội mạc tử cung (chẩn đoán và điều trị)

Lạc nội mạc tử cung phải được phân biệt với bệnh viêm tiểu khung, u buồng trứng và u xơ tử cung. Viêm vòi trứng và lạc nội mạc tử cung là các triệu chứng trầm trọng thêm bởi kinh nguyệt

Hội chứng mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Tuổi trung bình của mãn kinh ở các xã hội phương Tây là 51 tuổi. Mãn kinh sớm được định nghĩa là suy buồng trứng và mất kinh trước tuổi 40 thường do di truyền hay tự miễn.

Hiếp dâm (chẩn đoán và điều trị)

Về phía kẻ cưỡng dâm, cưỡng dâm diễn ra trong tình cảm giận dữ, hung hãn và kích thích tình dục. Kẻ cưỡng hiếp thường là một gã đàn ông dùng giao hợp để khủng bố và hạ nhục người phụ nữ.

Màng ngăn âm đạo và mũ cổ tử cung

Vì có một chút nguy cơ gây hội chứng sốc do nhiễm độc, mũ cổ tử cung hay màng ngăn âm đạo đều không được để lâu quá 12 - 18 giờ ở trong âm đạo và cũng không được dùng khi hành kinh.

Hậu quả của tiếp xúc với diethylstilbestron trong tử cung

Hiện nay tất cả các phụ nữ phơi nhiễm đều được khuyên bước đầu soi cổ tử cung kiểm tra, sơ bộ tìm những vùng biểu mô bất thường của âm đạo vậ cổ tử cùng

Chảy máu bất thường tiền mãn kinh (chẩn đoán và điều trị)

Chảy máu tử cung do rối loạn cơ năng thường là do sự phát triển quá mức của niêm mạc tử cung dưới sự kích thích của progesteron: điều này xảy ra trong những vòng kinh không phóng noãn.