Tiếp cận và đánh giá đái máu: tiểu máu, hồng cầu niệu

Ngày: 2016-1-9

By member of dieutri.vn

Các triệu chứng kích thích bài tiết, vi khuẩn niệu, và kết quả cấy nước tiểu dương tính ở nữ giới hướng đến nhiễm trùng đường tiết niệu

Nếu đái máu đại thể xuất hiện, sự mô tả về thời điểm (đầu, cuối, toàn bộ) có thể đưa ra đổi mới về vị trí bị bệnh. Các triệu chứng kết hợp (vị dụ, cơn đau quặn thận, các triệu chứng kích thích bài tiết, các triệu chứng toàn thân) phải được thăm khám. Thuốc uống và các vấn đề nội khoa kết hợp cũng có thể cung cấp các đầu mối chẩn đoán. Phải thăm dò tiền sử dùng thuốc: các thuốc chống đông, lạm dụng thuốc giảm đau (hoại tử nhú), cyclophosphamid (viêm bàng quang do hóa chất), các thuốc kháng sinh (viêm thận kẽ); tiền sử bệnh tật như đái tháo đường, hoặc bệnh hồng cầu liềm (hoại tử nhú), có tiền sử bệnh sỏi, hoặc bệnh ác tính. Sự hiện diện đái máu ở bệnh nhân đang điều trị các thuốc kháng đông phải được đánh giá đầy đủ bao gồm cả hình ảnh đường tiết niệu trên, soi bàng quang và tế bào học nước tiểu.

Thăm khám thực thể phải chú trọng đến các dấu hiệu của bệnh toàn thân (sốt, ban, bệnh lỷ hạch, các khối ở bụng hoặc chặn hông) cũng như các dấu hiệu của bệnh thận nội khoa (tăng huyết áp, quá tải thể tích). Đánh giá niệu học có thể chứng minh được sự hiện diện của bệnh tiền liệt tuyến, khối u ở mạn sườn, hoặc bệnh niệu đạo.

Các xét nghiệm labô ban đầu bao gồm xét nghiệm nước tiểu và cấy nước tiểu. Protein niệu và các trụ niệu hướng đến nguồn gốc bệnh ở thận. Các triệu chứng kích thích bài tiết, vi khuẩn niệu, và kết quả cấy nước tiểu dương tính ở nữ giới hướng đến nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng việc phân tích nước tiểu tiếp theo sau điều trị là quan trọng để đảm bảo không còn đái máu nữa.

Việc đánh giá kỹ hơn nữa phải bao gồm tế bào học nước tiểu, hình ảnh đường tiết niệu trên, và soi bàng quang. Tế bào học hỗ trợ đặc biệt cho chẩn đoán khối u tân sinh ở bàng quang, và nên lây ba mẫu bài tiết làm tăng tối đa độ nhạy. Hình ảnh đường tiết niệu trên (thường là một phim chụp X quang đường niệu tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch) có thể xác định được các khối u tân sinh của thận hoặc niệu quản cũng như xác nhận các tĩnh trạng lành tính chẳng hạn như sỏi tiết niệu, bệnh lý đường niệu tắc nghẽn, hoại tử nhú, thận xốp tủy, hoặc bệnh thận đa nang. Vai trò của siêu âm trong đánh giá đường tiết niệu đối với đái máu vẫn chưa rõ ràng. Trong khi siêu âm có thể cung cấp thông tin đầy đủ đối với thận, thì độ nhạy của nó trong việc phát hiện bệnh niệu quản có thể lại thấp hơn. Soi bàng quang có thể đánh giá các khối u bàng quang hoặc niệu đạo, phì đại lành tính tuyến tiền liệt, và viêm bàng quang do tia xạ hoặc hóa chất. Với đái máu đại thể, soi bàng quang là lý tưởng khi bệnh nhân đang chảy máu và cho phép định khu tốt hơn (ví dụ định vị trí một bên của các đường tiết niệu trên, bàng quang, hoặc niệu đạo).

Ớ bệnh nhân bị đái máu đại thể hoặc vi thể, trong 10% các trường hhp có thể xác định được một nguồn bệnh ở đường tiết niệu trên (thận và niệu quản). Đối với các nguồn ở đường tiết niệu trên thì sỏi chiếm khoảng 40%, bệnh thận nội khoa (bệnh thận xốp tủy, viêm thận - bể thận, hoại tử nhú) chiếm khoảng 20%, carcinoma tế bào thận 10% và carcinoma tế bào chuyển tiếp của niệu đạo hoặc bể thận là 5%. Đái máu vi thể ở nam giới hay gặp nhất là do tăng sản tuyến tiền liệt lành tính. Ở bệnh nhân có các xét nghiệm âm tính, phải làm các xét nghiệm nhắc lại để tránh bỏ sót một biểu hiện ác tính; tuy nhiên tần suất lý tưởng của các đánh giá như thế chưa được xác định. Tế bào học tiết niệu có thể làm nhắc lại trong 3 - 6 tháng, và soi bàng quang cũng như chụp đường tiết niệu trên cần làm nhắc lại sau một năm.