Viêm thận - bể thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 1 - 2016

Công thức máu toàn phần cho thấy có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Các trụ bạch cầu có thể có.

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Sốt.

Đau mạn sườn.

Các triệụ chứng kích thích bài tiết.

Cây nước tiểu dương tính.

Nhận định chung

Viêm thận - bể thận cấp là một bệnh nhiễm trùng liên qụan đến nhu mô thận và bể thận. Vi khuẩn Gram (-) là các tác nhân hay gặp nhất, bao gồm cả E.coli, proteus, klebsiella, enterobacter, và pseudomonas. Vi khuẩn Gram (+) ít gặp nhưng bao gồm cả Enterococcus Faecalis và Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng). Nhiễm trùng thường ngược dòng từ đường tiết niệu dưới - ngoại trừ tụ cầu vàng thường lan theo đường máu.

Các biểu hiện

Triệu chứng và dấu hiệu

Triệu chứng bao gồm sốt, đau mạn sườn, ớn lạnh gây run, và các triệu chứng kích thích bài tiết (đái gấp, đái thường xuyên, đái khó). Nôn, buồn nôn và ỉa chảy không hay gặp. Các dấu hiệu bao gồm sốt và nhịp tim nhanh. Đau ở góc sườn cột sống thường là rõ rệt.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Công thức máu toàn phần cho thấy có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Các trụ bạch cầu có thể có. Cấy nước tiểu cho thấy có sự phát triển mạnh của tác nhân gây bệnh, và cấy máu cũng có thể dương tính.

Chẩn đoán hình ảnh

Trong viêm thận - bể thận có biến chứng, siêu âm thận có thể cho thấy hình ảnh ứ nước thận do sỏi hoặc do nguồn gây tắc nghẽn khác.

Chẩn đoán phân biệt

Phải phân biệt viêm thận - bể thận với một bệnh cấp trong bụng chẳng hạn như viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm tụy, hoặc viêm túi thừa. Trong các bệnh dạ dày ruột, phân tích nước tiểu thường bình thường, tuy nhiên đôi khi viêm ở vùng ruột cận kề (viêm ruột thừa hoặc viêm túi thừa) có thể gây đái máu hoặc mủ niệu. Các xét nghiệm chức năng gan bất thường hoặc nồng độ amylase tăng có thể hỗ trợ cho sự phân biệt. Viêm phổi thuỳ dưới có thể phân biệt được nhờ phim chụp X quang ngực bất thường.

Ở nam giới, chẩn đoán phân biệt chủ yếu đôl với một nhiễm trùng đường niệu có sốt bao gồm viêm mào tinh hoàn cấp, viêm tuyến tiền liệt cấp, và viêm thận - bể thận cấp. Khám thực thể và định khu đau sẽ cho phép chẩn đoán phân biệt các trường hợp trên.

Các biến chứng

Nhiễm trùng huyết có sốc có thể xảy ra với viêm thận - bể thận cấp. Ở người đái tháo đường, viêm thận - bể thận tràn khí do vi khuẩn sinh hơi có thể đe doạ tính mạng nếu không được điều trị thỏa đáng. Người lớn khỏe mạnh thường hồi phục chức năng thận hoàn toàn, nhưng nếu có bệnh thận cùng tồn tại thì sẹo hoặc viêm thận - bể thận mạn tính có thể diễn ra. Điều trị không thỏa đáng có thể gây hình thành ổ áp xe.

Điều trị

Nhiễm trùng nặng hoặc có các yếu tố phức tạp đòi hỏi bệnh nhân phải nhập viện. Cấy máu và cây nước tiểu phải làm để xác định tác nhân gây bệnh và để xác định độ nhạy kháng khuẩn. Ampicillin đường tĩnh mạch và một thuốc nhóm aminoglycosid là sự lựa chọn ban đầu trước khi có các kết quả kháng sinh đồ (bảng). Ở cơ sở ngoại trú, có thể bắt đầu điều trị bằng trimethoprim - sulfamethoxazol hoặc các quinolon (bảng). Các kháng sinh được hiệu chỉnh tùy theo độ nhạy vi khuẩn. sốt có thể kéo dài 72 giờ, nếu điều trị thất bại thì phải chụp X quăng hoặc siêu âm để loại trừ các yếu tố phức tạp đòi hỏi phải có sự can thiệp. Khi có ứ nước tiểu có thể dẫn lưu bằng xông và cần phải mở thận dẫn lưu nếu có tắc nghẽn niệu quản. Với bệnh nhân nội trú, duy trì kháng sinh đường tĩnh mạch trong 24 giờ sau khi bệnh nhân hạ sốt, và sau đó cho dùng kháng sinh uống để đủ liệu trình điều trị 3 tuần. Cấy nước tiểu theo dõi phải được tiến hành vài tuần sau khi kết thúc điều trị.

Bảng. Điều trị theo kinh nghiệm các nhiễm trùng đường niệu

 

Tiên lượng

Khi chẩn đoán và điều trị thích hợp, viêm thận - bể thận cấp có tiên lượng tốt. Các yếu tố phức tạp, bệnh thận nền, và tuổi tác của bệnh nhân càng tăng có thể làm cho kết quả điều trị không được như mong muốn.

Bài mới nhất
Bài xem nhiều nhất

Khối u ở thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Khối u tinh hoàn (chẩn đoán và điều trị)

Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt có thể có các triệu chứng bài tiết kích thích và tắc nghẽn. Các triệu chứng tắc nghẽn bao gồm giảm áp lực và khẩu kính dòng nước tiểu, dòng nước tiểu ngắt quãng, và lưỡng lự đi tiểu.

Ung thư bàng quang (chẩn đoán và điều trị)

Phân tích nước tiểu sẽ phát hiện huyết niệu ở đa số các trường hợp. Đôi khi, có thể kèm theo mủ niệu. Vô niệu có thể có ở số lượng nhỏ các trường hợp kèm theo tắc nghẽn niệu quản.

Ung thư niệu quản và bể thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u bể thận và niệu quản phải được phân biệt với sỏi, cục máu, hoại tử nhú hoặc viêm, hoặc các tổn thương nhiễm trùng

Ung thư tuyến tiền liệt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ở nam giới đều không có triệu chứng rõ rệt mà chỉ có các cục khu trú hoặc những vùng rắn cứng

Xét nghiệm nước tiểu đánh giá bệnh niệu học

Xét nghiệm nước tiểu bằng qụe đo mực nước không có vai trò gì trong việc sàng lọc các bệnh đường tiết niệu ở những người trưởng thành không có triệu chứng ngoại trừ phụ nữ mang thai.

Bệnh sỏi tiết niệu (chẩn đoán và điều trị)

Chế độ ăn và dịch uống có thể là các yếu tố quan trọng trong sự phát triển của sỏi niệu. Người bị bệnh sỏi niệu tái phát được khuyến khích, duy trì một chế độ ăn hạn chế muối và protein.

Viêm mào tinh hoàn cấp (chẩn đoán và điều trị)

Siêu âm bìu có thể hỗ trợ trong chẩn đoán nếu việc thăm khám khó khăn do thủy tinh mạc hoặc có các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến chẩn đoán.

Các nhiễm trùng đường sinh dục tiết niệu

Các nhiễm trùng đầu tiên là các nhiễm trùng lần đầu ở phụ nữ trẻ tuổi, Vi khuẩn niệu không giải quyết được xuất hiện khi đường niệu không được vô trùng trong suốt quá trình điều trị

Vô sinh nam (chẩn đoán và điều trị)

Nên phân tích tinh dịch sau 72 giờ kiêng không sinh hoạt tình dục. Nên phân tích mẫu tinh dịch trong vòng 1 giờ sau thu thập. Nồng độ tinh trùng bất thường là < 20 triệu/ml.

Rối loạn chức năng cương cứng nam giới và rối loạn chức năng tình dục

Mất cương cứng có thể do các nguyên nhân động mạch, tĩnh mạch, thần kinh hoặc tâm sinh. Các bệnh đang mắc có thể làm ảnh hưởng đến một hoặc nhiều cơ chế.

Viêm bàng quang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm nước tiểu cho thấy có mủ niệu, vi khuẩn niệu và các mức độ đái máu khác nhau. Mức độ mủ niệu và vi khuẩn niệu không nhất thiết tương quan với mức độ nặng của các triệu chứng.

Viêm thận - bể thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Công thức máu toàn phần cho thấy có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Các trụ bạch cầu có thể có.

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Theo lập luận thì các nguyên nhân gây bệnh là chlamydia, mycoplasma, ureaplasma, và virus, song không có bằng chứng thực sự nào tồn tại