Đau tuyến tiền liệt (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 1 - 2016

Xét nghiệm nước tiểu bình thường sẽ phân biệt được với các quá trình nhiễm trùng cấp tính. Xét nghiệm các chất tiết tuyến tiền liệt được bóp ra sẽ phân biệt được với các hội chứng viêm tuyến tiền liệt.

Đau tuyến tiền liệt là một bệnh không viêm ảnh hưởng đến nam giới trẻ tuổi, trung niên và có các nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả loạn chức năng bài tiết và loạn chức năng hệ cơ đáy chậu. Thuật ngữ “đau tuyến tiền liệt” là một thuật ngữ sai lệch, bởi vì tuyến tiền liệt thực sự bình thường.

Triệu chứng và dấu hiệu

Các triệu chứng giống như viêm tuyến tiền liệt mạn tính, nhưng không có tiền sử nhiễm trùng đường niệu. Các triệu chứng thêm vào có thể bao gồm tiểu tiện ngập ngừng và tiểu tiện gián đoạn. Người bệnh có thể có tiền sử khó bài tiết trong cả cuộc đời. Khám thực thể không rõ ràng, nhưng trương lực cơ thắt hậu môn tăng và đau ở vùng cận tuyến tiền liệt.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Xét nghiệm nước tiểu bình thường. Các chất tiết của tuyến tiền liệt khi bóp ra có số lượng bạch cầu bình thường. Test niệu - động học có thể có các dấu hiệu loạn: chức năng bài tiết (co cơ bức niệu mà không có giãn cơ niệu đạo, các áp lực niệu đạo cao, co thắt cơ thắt đường niệu) và được chỉ định ở bệnh nhân đã thất bại với các điều trị theo kinh nghiệm bằng các thuốc chẹn alpha hoặc các thuốc kháng tiết cholin.

Chẩn đoán phân biệt

Xét nghiệm nước tiểu bình thường sẽ phân biệt được với các quá trình nhiễm trùng cấp tính. Xét nghiệm các chất tiết tuyến tiền liệt được bóp ra sẽ phân biệt được với các hội chứng viêm tuyến tiền liệt.

Điều trị

Cổ bàng quang và các co thắt niệu đạo có thể điều trị được bằng các thuốc chẹn alpha (terazosin, 1 - 10mg uống một lần một ngày; hoặc dozazoxin, 1- 8mg uống một lần một ngày). Loạn chức năng cơ ở sàn chậu có thể đáp ứng với diazepam và các kỹ thuật phản hồi sinh học. Ngồi ngâm có thể góp phần làm giảm các triệu chứng của bệnh.

Tiên lượng

Tiên lượng khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân cụ thể.

Bài xem nhiều nhất

Khối u ở thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Khối u tinh hoàn (chẩn đoán và điều trị)

Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u. Khoảng 5% của những khối u tinh hoàn phát triển ở những bệnh nhân có tiền sử tinh hoàn ẩn với u tinh là phổ biến nhất.

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt có thể có các triệu chứng bài tiết kích thích và tắc nghẽn. Các triệu chứng tắc nghẽn bao gồm giảm áp lực và khẩu kính dòng nước tiểu, dòng nước tiểu ngắt quãng, và lưỡng lự đi tiểu.

Ung thư bàng quang (chẩn đoán và điều trị)

Phân tích nước tiểu sẽ phát hiện huyết niệu ở đa số các trường hợp. Đôi khi, có thể kèm theo mủ niệu. Vô niệu có thể có ở số lượng nhỏ các trường hợp kèm theo tắc nghẽn niệu quản.

Ung thư niệu quản và bể thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u bể thận và niệu quản phải được phân biệt với sỏi, cục máu, hoại tử nhú hoặc viêm, hoặc các tổn thương nhiễm trùng. Đôi khi, có thể vào được những tổn thương như vậy để hướng dẫn sinh thiết, đốt bằng tia điện, hoặc cắt qua soi niệu quản.

Ung thư tuyến tiền liệt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ở nam giới đều không có triệu chứng rõ rệt mà chỉ có các cục khu trú hoặc những vùng rắn cứng trong tuyến tiền liệt khi thăm khám trực tràng bằng tay.

Xét nghiệm nước tiểu đánh giá bệnh niệu học

Xét nghiệm nước tiểu bằng qụe đo mực nước không có vai trò gì trong việc sàng lọc các bệnh đường tiết niệu ở những người trưởng thành không có triệu chứng ngoại trừ phụ nữ mang thai.

Bệnh sỏi tiết niệu (chẩn đoán và điều trị)

Chế độ ăn và dịch uống có thể là các yếu tố quan trọng trong sự phát triển của sỏi niệu. Người bị bệnh sỏi niệu tái phát được khuyến khích, duy trì một chế độ ăn hạn chế muối và protein.

Viêm mào tinh hoàn cấp (chẩn đoán và điều trị)

Siêu âm bìu có thể hỗ trợ trong chẩn đoán nếu việc thăm khám khó khăn do thủy tinh mạc hoặc có các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến chẩn đoán.

Các nhiễm trùng đường sinh dục tiết niệu

Các nhiễm trùng đầu tiên là các nhiễm trùng lần đầu ở phụ nữ trẻ tuổi có xu hướng không biến chứng. Vi khuẩn niệu không giải quyết được xuất hiện khi đường niệu không được vô trùng trong suốt quá trình điều trị.

Vô sinh nam (chẩn đoán và điều trị)

Nên phân tích tinh dịch sau 72 giờ kiêng không sinh hoạt tình dục. Nên phân tích mẫu tinh dịch trong vòng 1 giờ sau thu thập. Nồng độ tinh trùng bất thường là < 20 triệu/ml.

Rối loạn chức năng cương cứng nam giới và rối loạn chức năng tình dục

Mất cương cứng có thể do các nguyên nhân động mạch, tĩnh mạch, thần kinh hoặc tâm sinh. Các bệnh đang mắc có thể làm ảnh hưởng đến một hoặc nhiều cơ chế.

Viêm bàng quang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm nước tiểu cho thấy có mủ niệu, vi khuẩn niệu và các mức độ đái máu khác nhau. Mức độ mủ niệu và vi khuẩn niệu không nhất thiết tương quan với mức độ nặng của các triệu chứng.

Viêm thận - bể thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Công thức máu toàn phần cho thấy có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Các trụ bạch cầu có thể có.

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn là bệnh hay gặp nhất trong các hội chứng viêm tuyến tiền liệt, và nguyên nhân của nó vẫn chưa rõ. Theo lập luận thì các nguyên nhân gây bệnh là chlamydia, mycoplasma, ureaplasma, và virus, song không có bằng chứng thực sự nào tồn tại.