Viêm mào tinh hoàn cấp (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 10 - 1 - 2016

Siêu âm bìu có thể hỗ trợ trong chẩn đoán nếu việc thăm khám khó khăn do thủy tinh mạc hoặc có các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến chẩn đoán.

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Sốt.

Các triệu chứng kích thích bài tiết.

Phì đại mào tinh hoàn gây đau.

Nhận định chung

Hầu hết các trường hợp viêm mào tinh hoàn cấp tính là do nhiễm trùng và có thể được phân thành một hoặc hai thể mà có sự phân bố độ tuổi khác nhau và có các tác nhân gây bệnh khác nhau. Các thể lây truyền qua đường tình dục xuất hiện điển hình ở nam giới dưới 40 tuổi, có kết hợp với viêm niệu đạo, và do C. trachomatis hoặc N. gonorrhoeae gây ra. Các thể lây truyền không qua đường tình dục xuất hiện điển hình ở người nhiều tuổi hơn, có các nhiễm trùng đường niệu và viêm tuyến tiền liệt kết hợp, thường do trực khuẩn Gram (-) gây ra. Con đường nhiễm trùng có lẽ qua niệu đạp lên ống phóng tinh và sau đó xuống các mạch tinh quản để đến mào tinh. Amiodaron được kết hợp với viêm mào tinh hoàn tự khỏi.

Triệu chứng và dấu hiệu

Các triệu chứng có thể xuất hiện sau gắng sức một cách đột ngột (nâng đồ nặng), chấn thương, hoặc hoạt động tình dục. Các triệu chứng kết hợp của viêm niệu đạo (đau ở đầu dương vật và có chất tiết niệu đạo) hoặc viêm bàng quang (các triệu chứng kích thích bài tiết) có thể xuất hiện. Đau có thể xuất hiện ở bìu và có thể lan dọc theo thừng tinh hoặc lên đến mạn sườn. Sốt và sưng bìu thường rõ ràng. Trong giai đoạn sớm của bệnh, viêm mào tinh hoàn có thể phân biệt được với tinh hoàn; tuy nhiên, sau đó cả hai đều có thể xuất hiện là một khối to, đau. Tiền liệt tuyến có thể đau khi thăm khám trực tràng.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Công thức máu toàn phần có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Trong các thể lây truyền qua đường tình dục, nhuộm Gram phiến đồ chất tiết âm đạo có thể có giá trị chẩn đoán song cầu khuẩn nội bào bắt màu Gram âm (N. gonorrhoeae). Các bạch cầu không có các vi khuẩn nhìn thấy được trên phiến đồ âm đạo đại diện cho viêm niệu đạo không do lậu cầu, và C. trachomatis là tác nhân có khả năng gây bệnh nhất. Ở các thể không lây truyền qua đường tình dục, xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Cấy nước tiểu sẽ phát hiện được tác nhân gây bệnh.

Chẩn đoán hình ảnh

Siêu âm bìu có thể hỗ trợ trong chẩn đoán nếu việc thăm khám khó khăn do thủy tinh mạc hoặc có các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt

Các khối u nhìn chung gây phì đại tinh hoàn không đau. Xét nghiệm nước tiểu âm tính, và thăm khám mào tinh hoàn bình thường. Siêu âm bìu giúp xác định bệnh học. Xoắn tinh hoàn thường xuất hiện ở nam giới trước tuổi dậy thì nhưng đôi khi gặp cả ở người trưởng thành trẻ tuổi. Khởi phát các triệu chứng đột ngột và xét nghiệm nước tiểu âm tính sẽ ủng hộ chẩn đoán xoắn tinh hoàn hoặc xoắn một tinh hoàn hoặc xoắn các phần phụ của mào tinh hoàn. Dấu hiệu Prehn (nâng bìu trên khớp mu để phát hiện dấu hiệu đau tăng do viêm mào tinh hoàn) có thể hữu ích nhưng không đáng tin cậy.

Điều trị

Nghỉ ngơi trên giường nâng bìu lên là quan trọng trong giai đoạn cấp. Điều trị hướng trực tiếp vào tác nhân gây bệnh đã xác định được. Các thể lây truyền qua đường tình dục được điều trị 10 - 21 ngày bằng các kháng sinh và bạn tình cũng phải được điều trị. Các thể không lây truyền qua đường tình dục thì điều trị trong 21 đến 28 ngày bằng các kháng sinh thích hợp, khi đó mới đảm bảo để đánh giá đường niệu để xác định bệnh lý cơ bản.

Tiên lượng

Điều trị kịp thời thường cho kết quả đáng khích lệ. Điều trị chậm hoặc không thỏa đáng có thể dẫn đến viêm tinh hoàn - mào tinh hoàn, giảm khả năng sinh sản, hoặc hình thành các áp xe.


Bài xem nhiều nhất

Khối u tinh hoàn (chẩn đoán và điều trị)

Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u. Khoảng 5% của những khối u tinh hoàn phát triển ở những bệnh nhân có tiền sử tinh hoàn ẩn với u tinh là phổ biến nhất.

Khối u ở thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt có thể có các triệu chứng bài tiết kích thích và tắc nghẽn. Các triệu chứng tắc nghẽn bao gồm giảm áp lực và khẩu kính dòng nước tiểu, dòng nước tiểu ngắt quãng, và lưỡng lự đi tiểu.

Ung thư bàng quang (chẩn đoán và điều trị)

Phân tích nước tiểu sẽ phát hiện huyết niệu ở đa số các trường hợp. Đôi khi, có thể kèm theo mủ niệu. Vô niệu có thể có ở số lượng nhỏ các trường hợp kèm theo tắc nghẽn niệu quản.

Ung thư niệu quản và bể thận (chẩn đoán và điều trị)

Những khối u bể thận và niệu quản phải được phân biệt với sỏi, cục máu, hoại tử nhú hoặc viêm, hoặc các tổn thương nhiễm trùng. Đôi khi, có thể vào được những tổn thương như vậy để hướng dẫn sinh thiết, đốt bằng tia điện, hoặc cắt qua soi niệu quản.

Ung thư tuyến tiền liệt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện ở nam giới đều không có triệu chứng rõ rệt mà chỉ có các cục khu trú hoặc những vùng rắn cứng trong tuyến tiền liệt khi thăm khám trực tràng bằng tay.

Xét nghiệm nước tiểu đánh giá bệnh niệu học

Xét nghiệm nước tiểu bằng qụe đo mực nước không có vai trò gì trong việc sàng lọc các bệnh đường tiết niệu ở những người trưởng thành không có triệu chứng ngoại trừ phụ nữ mang thai.

Bệnh sỏi tiết niệu (chẩn đoán và điều trị)

Chế độ ăn và dịch uống có thể là các yếu tố quan trọng trong sự phát triển của sỏi niệu. Người bị bệnh sỏi niệu tái phát được khuyến khích, duy trì một chế độ ăn hạn chế muối và protein.

Viêm mào tinh hoàn cấp (chẩn đoán và điều trị)

Siêu âm bìu có thể hỗ trợ trong chẩn đoán nếu việc thăm khám khó khăn do thủy tinh mạc hoặc có các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến chẩn đoán.

Các nhiễm trùng đường sinh dục tiết niệu

Các nhiễm trùng đầu tiên là các nhiễm trùng lần đầu ở phụ nữ trẻ tuổi có xu hướng không biến chứng. Vi khuẩn niệu không giải quyết được xuất hiện khi đường niệu không được vô trùng trong suốt quá trình điều trị.

Vô sinh nam (chẩn đoán và điều trị)

Nên phân tích tinh dịch sau 72 giờ kiêng không sinh hoạt tình dục. Nên phân tích mẫu tinh dịch trong vòng 1 giờ sau thu thập. Nồng độ tinh trùng bất thường là < 20 triệu/ml.

Rối loạn chức năng cương cứng nam giới và rối loạn chức năng tình dục

Mất cương cứng có thể do các nguyên nhân động mạch, tĩnh mạch, thần kinh hoặc tâm sinh. Các bệnh đang mắc có thể làm ảnh hưởng đến một hoặc nhiều cơ chế.

Viêm bàng quang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Xét nghiệm nước tiểu cho thấy có mủ niệu, vi khuẩn niệu và các mức độ đái máu khác nhau. Mức độ mủ niệu và vi khuẩn niệu không nhất thiết tương quan với mức độ nặng của các triệu chứng.

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn là bệnh hay gặp nhất trong các hội chứng viêm tuyến tiền liệt, và nguyên nhân của nó vẫn chưa rõ. Theo lập luận thì các nguyên nhân gây bệnh là chlamydia, mycoplasma, ureaplasma, và virus, song không có bằng chứng thực sự nào tồn tại.

Viêm thận - bể thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Công thức máu toàn phần cho thấy có tăng bạch cầu và công thức bạch cầu chuyển trái. Xét nghiệm nước tiểu có mủ niệu, vi khuẩn niệu, và các mức độ đái máu khác nhau. Các trụ bạch cầu có thể có.