Các test miễn dịch tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 1 - 2017

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T.

Các kỹ thuật xác định tế bào T và B của người

Tế bào B

Những đặc điểm bề mặt tế bào thường thấy trên tế bào B nhưng không thấy trên tế bào T bao gồm: (1) Globulin miễn dịch bề mặt dễ phát hiện; (2) Những kháng nguyên đặc hiệu (CD19, CD20); (3) Thụ thể ở đoạn Fc của globulíh miến dịch đã được ngưng tập hay đã được phức hợp với khảng nguyên; (4) Các kháng nguyên DR.

Các dấu ấn bề mặt này được phảt hiện bằng kháng thể đơn dòng liên hợp với các fluorochrome khác nhau hoặc bằng kính hiển vi hoặc bằng lưu tốc ký tế bào (flow cytometry).

Tế bào T

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T. Tế bào T cũng được phát hiện trong các cắt đoạn tổ chức hay trong hỗn hợp kháng thể đánh dấu - enzym mà sẽ phát màu khi u với cơ chất sinh màu. Gần 75% lympho máu ngoại biên người là tế bào T, và trên 20% là tế bào B. Số còn lại là tế bào NK.

Lưu tốc ký tế bào

Lưu tốc ký tế bào là những dụng cụ đo đúng đắn kích thước, tỷ trọng và nhiều màu sắc của kháng thể miễn, dịch huỳnh quang đơn dòng trên lympho bào người. Hàng nghìn tế bào có thể được phân tích một cách riêng biệt sự hiện diện của các thông số ngay tức thì. Phương pháp này cải thiện một bước lớn lao về độ chính xác, tốc độ nhanh và đúng đắn trong phân lập các tế bào T và B ở người trong các xét nghiệm lâm sàng.

Những thủ thuật thử nghiệm miễn dịch qua trung gian tế bào hay chức năng tế bào T

Thử test da

Tính miễn dịch qua trung gian tế bào có thể định lượng bằng cách đánh giá tính phản ứng da sau khi tiêm trong da một loạt các kháng nguyên mà con người thường hay bị mẫn cảm (như streptokinase, streptodornase, dẫn xuất protein tinh khiết, nấm trichophyton, nấm dermatophyton hay nấm candida). Tiêm trong da 0,1ml đậm độ theo yêu cầu của test sẽ thấy một vùng dày cứng và mẩn đỏ tối đa ở giờ thứ 24 và 48. Phản ứng dương tính thay đổi kích thước với các kháng nguyên đặc biệt nhưng thường tối thiểu là 10 mm đường kính. Mất dị ứng, (anergy) hoặc mất phản ứng da với tất cả chất thường dùng này cho thấy, có suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào. Test da quá mẫn chậm phụ thuộc vào phức hợp tương tác của tế bào thực bào và các chất phản ứng miễn dịch khác; Do vậy không có khả năng đáp ứng nên không xác lập một cách đặc hiệu thiểu hụt của một typ tế bào đặc biệt.

Kích thích in vitro các lympho bào máu ngoại biên bung các chất gây phân bào (mitogen) hay kháng nguyên

Lympho bào T được chuyển thành nguyên bào trong lúc ủ thời gian ngắn với các chất gây phân bào như phytohemagglutinịn hay nhắc lại các kháng nguyên in vitro. Hoạt động của tế bào T có thể xác định định lượng bằng cách theo dõi sự tiếp nhận 3H-thymidin được cho vào trong môi trường nụôi cấy. Sự tiếp nhận 3H- thymidin in vitro của lympho bào máu. ngoại biên người chỉ rõ chức năng tế bào T và liên hệ rõ rệt với những biểu hiện khác của miễn dịch qua trung gian tế bào như các test da đo bằng hiện tượng quá mẫn chậm. Test chức năng này có thể phát hiện những bất thường của tế bào T mặc dù số lượng tế bào bình thường hay giảm nhẹ, đặc biệt trong theo dõi ghép tủy xương hay các bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh. Việc kích thích lympho bào của người nhận ghép hay lympho bào của người cho (phản ứng lympho bào hỗn hợp) là một test còn bàn cãi trong việc xác định hoà hợp tổ chức, nhất là trong ghép thận và tủy xương.

Bài xem nhiều nhất

Điều trị các bệnh dị ứng

Loại trừ tiếp xúc với dị nguyên sẽ chữa được vấn đề đặc hiệu nhưng nó có thể hoặc không có thể làm giảm tính nhạy cảm miễn dịch cơ bản với dị nguyên này. Sự thành công đòi hỏi chẩn đoán đúng dị nguyên gây bệnh trong mỗi trường hợp.

Cơ chế tác động của các thuốc ức chế miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Cocticosteoid ức chế đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào mạnh hơn là đáp ứng kháng thể. Tế bào T giúp đỡ thường giảm trước tiên do có hiện tượng phân phối lại. Bạch cầu trung tính tăng lên do sự đi ra ngoài rìa và phóng thích của tủy xương.

Phân loại các bệnh dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Trong vòng mấy phút sau khi trình diện với dị nguyên, các chất trung gian vận mạch và viêm được hoạt hóa và được phóng thích từ các tế bào bón gây dãn mạch, co thắt cơ trơn ở các tạng và kích thích các tuyến tiết chất nhầy.

Chẩn đoán các bệnh dị ứng

Thăm khám thực tế sẽ phát hiện dấu hiệu của bệnh cấp tính nếu người bệnh được thăm khám ngay trong thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Những nghiên cứu điện quang hay các xạ hình khác có thể là cần để trợ giúp cho thăm khám thực thể.

Cấu trúc và chức năng của Globulin miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Các gen mã hóa cho các phân tử globulin miễn dịch chuỗi nhẹ và nặng trải qua những sắp xếp lại trong các ADN của tế bào B dẫn đến việc tổng hợp và biểu hiện của nhóm rất khác nhau của phân tử globulin miễn dịch.

Sự liên quan giữa kháng nguyên HLA và các bệnh đặc hiệu

Nghiên cứu cho thay phối hợp mạnh nhất là giữa HLA B27 và bệnh nhân viêm cột sống dính khớp mà mọi nhóm dân tộc đều bị nhưng thường là ờ dân Nhật Bản nhiều hơn là dân Cáp ca-zơ.

Ghép tạng trong lâm sàng (chẩn đoán và điều trị)

Chỉ định ghép tim khi bệnh tim ở giai đoạn cuối hoàn toàn kháng với điều trị nội khoa. Người cho và người nhận phải được so nghiệm để loại trừ các kháng thể kháng HLA ở người nhận vì đây là dịp hiếm có cho định typ HLA.

Kiểm soát di truyền của đáp ứng miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Trong vùng di truyền xác định phức hợp kháng nguyên ghép chủ yếu, có những gen xác định tính khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Chúng được gọi là gen đáp ứng miễn dịch hay gen Ir (Immune response).

Tự miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Hoạt động của tế bào T ngăn chặn bị giảm sút dẫn đến sự điều chỉnh đáp ứng miễn dịch bị rối loạn và có thể khởi phát hoạt động quá mức của các cơ chế tự phản ứng khác.

Các test phát hiện tự kháng thể liên quan với các bệnh tự miễn

Kháng thể của nhiều kháng nguyên tổ chức khác nhau có thể được phát hiện dễ dàng bằng test ELISA. Kháng nguyên đã chiết xuất ra và đã làm tinh khiết được cố định vào một hố lõm vi chuẩn độ hay những hạt bằng plastic.

Suy giảm miễn dịch thứ phát (chẩn đoán và điều trị)

Suy giảm miễn dịch phối hợp với bệnh sarcoid đặc trưng bởi suy giảm một phần chức năng tế bào T, trong khi chức năng tế bào B bình thường hoặc tăng. Người bị bệnh sarcoid thường là tương đối không phản ứng với tiêm trong da các kháng nguyên thông thường.

Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS, chẩn đoán và điều trị)

Trong AIDS, các miễn dịch cho thấy một suy giảm nặng có chọn lọc chức năng và số lượng lympho bào T cùng với giảm nhẹ số lượng lympho bào B. Người bệnh thường bị vô ứng (anergy).

Định tuyp HLA (chẩn đoán và điều trị)

Định typ của lớp kháng nguyên II HLA - DR và - DQ được tiến hành như đã mô tả trên, trừ lympho D phân lập ra được sử dụng như đích ít hơn là các lympho bào máu ngoại biên không phân lập, kháng nguyên của loại HLA - P và - DP được phát hiện in vitro bằng tính phản ứng của tế bào.

Các test miễn dịch tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Dấu ấn tế bào T bao gồm các kháng nguyên bề mặt được phân lập bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng huyết thanh đơn dòng đã được dùng cả trong miễn dịch nhuộm huỳnh quang lẫn trong thử nghiệm độc tế bào in vitro để phân lập dưới tập hợp tế bào T.

Suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường

Nguyên nhân của giảm gammaglobulin máu toàn bộ trong tuyệt đại đa số bệnh nhân suy giảm miễn dịch biến thiên thông thường là một sai lạc của tế bào B nội tại trong sản xuất kháng thể.